Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Hà Tiên có núi Pháo Đài

Kim Dự là tên một ngọn núi nhỏ ở sát vịnh Thái Lan, xưa thuộc tỉnh Hà Tiên, nay thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, còn gọi là núi Pháo Đài. Núi nằm về phía Tây Bắc bãi biển Mũi Nai.
Đây cũng là một trong 10 cảnh đẹp của đất Hà Tiên xưa, từng được Mạc Thiên Tứ ca ngợi qua bài Kim Dự lan đào tức đảo vàng chắn sóng.

Thi sĩ Mạc Thiên Tứ có làm hai bài thơ tựa là Kim Dữ lan đào (hay Kim Dự lan đào); một bài bằng chữ Hán, trong tập Hà Tiên thập vịnh được khắc in năm 1737, bài kia bằng chữ Nôm, xếp trong tập Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh. Cả hai bài đều mô tả cảnh đẹp của núi Kim Dữ, một trong mười thắng cảnh của Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. “Suy hình hài như thả ngọc phong”, ý muốn nói Kim Dự như một hòn đảo ngọc, bập bềnh trôi nổi trên biển.

Nhà giáo, thi sĩ Đông Hồ giải nghĩa: Kim Dữ là hòn đảo vàng. Lan là khép cánh cửa lại, ngăn chặn, như cánh cửa khép lại. Đào là sóng gió. Vậy, Kim Dữ lan đào là hòn đảo vàng ngăn chặn sóng gió từ ngoài biển không lọt vào được bên trong; ngụ ý nói rằng, Hà Tiên có tầm quan trọng trong việc che chắn cho giang sơn của chúa Nguyễn.

Theo truyền thuyết dân gian, Kim Dữ ngày xưa là một hòn đảo nhỏ, có con giao long ẩn mình dưới núi. Khi nó cựa mình thì hòn núi bị xê dịch, có khi gần bờ, có khi xa bờ... Do núi Kim Dữ có vị trí hiểm yếu, phòng thủ, trấn giữ phía biển của trấn Hà Tiên, năm 1831, nhà Nguyễn cho đắp đồn lũy trên núi, đặt súng thần công, từ đó ngọn núi nhỏ này có tên gọi là núi Pháo Đài. Pháo Đài, nay cũng dùng tên này để đặt tên cho phường.

Buổi sáng ở biển Hà Tiên, mặt trời như quả bóng màu da cam lừng lững nổi lên từ dưới biển, tàu ghe đầy ắp cá tôm tấp nập xuôi về bến Giang Thành. Buổi chiều, Hà Tiên lộng gió, biển xanh mênh mông với muôn trùng lượn sóng bạc. Chung quanh núi Pháo Đài có khá nhiều cây phượng vĩ cổ thụ, đỏ rực như màu xác pháo khi hè về. Có một vài cây hoàng lan hoa vàng nhạt tỏa hương ngan ngát khi màn đêm buông xuống. Trải qua thời gian, cùng với những biến động thăng trầm của lịch sử, di tích xưa trên đỉnh núi bây giờ đã hoang phế, gần mất dấu.

Ngày nay, trên núi có một toà kiến trúc bề thế, đó chính là khách sạn Pháo Đài. Con đường dưới chân núi được mở rộng, tráng nhựa, chạy uốn quanh lên đỉnh, từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát cảnh biển và thị xã Hà Tiên.

Dưới chân núi có một con đường, dân chúng quen gọi là đường Cầu Đá vì ngày xưa người ta đắp bằng đá để nối núi với đất liền cho tiện việc lưu thông. Người đời sau theo đó đắp thành đường đất. Nay đã trải nhựa khang trang, nhưng tên gọi thì vẫn vậy. Hai bên đường ngày nay đã có phố, nhà cửa khá khang trang, vườn tược tươi tốt.

Năm 2003, cầu bê tông nối liền hai bờ cửa biển Hà Tiên được xây dựng. Đứng giữa đỉnh cầu, du khách có thể nhìn bao quát cảnh biển Hà Tiên, vịnh Đông Hồ, núi Đại Tô Châu, Tiểu Tô Châu, tượng đài Mạc Cửu cùng với phố chợ Hà Tiên sầm uất, nhộn nhịp. Giá lưu trú ở khách sạn Pháo Đài khá mềm, phòng đầy đủ tiện nghi cho ba người giá 250.000 đồng/ngày, phòng đôi 200.000 đồng/ngày. Vào các dịp lễ, tết, giá phòng nghỉ ở Hà Tiên nhảy vọt lên gấp ba, bốn lần!

Từ núi Pháo Đài, du khách có thể đi bộ ra chợ Hà Tiên rất gần, chừng 400 mét. Đi chợ đêm Hà Tiên vui chơi, ăn uống, mua sắm là một thú vui không thể thiếu được trong chuyến du lịch. Giá cả các mặt hàng thủy hải sản ở đây khá rẻ so với một vài nơi khác, tôm khô vừa lạt 350.000 đồng một ký lô, khô cá sửu 100.000 đồng/kg...

Hàng tiêu dùng ở chợ đêm Hà Tiên cũng rất phong phú, du khách có thể mua khăn rằn, sữa tắm, kem, đèn pin, vải, trái cây có xuất xứ từ Thái, Campuchia, Trung Quốc, giá cả thường rẻ hơn trong nội địa rất nhiều.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thesaigontimes, Hatien và nhiều nguồn ảnh khác

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012

Rục rịch soạn hành lý...

Bọn mình lại bắt đầu chuẩn bị cho một chuyến đi. Đích đến đã nhắm rồi, ngày giờ không rõ do tất cả còn liên quan đến thời tiết: chỉ đơn thuần mong cho trời có nắng có âm u, không bão tố hay mưa dầm trong dăm bảy bữa là thừa sức vi vu.
Nhưng mong là một chuyện còn nắng mưa là ý Trời, vậy nên bọn mình vẫn theo dõi đều mục dự báo thời tiết hàng ngày để 'canh me' cho mình một khoảng lặng chờ tung bay.

Cung đường kỳ này có lẽ thật thông thường với bao bạn từng bôn ba gót chân khắp chốn, kể cả những bạn đã vi vu theo các tour: Nha Trang và Đà Lạt. Ngay với cả bọn mình: đây cũng là những nơi đã đến, đã đi qua và đã cảm nhận được cái đẹp tại những địa danh nổi tiếng này.

Tuy nhiên: quen mà lạ cũng sẽ là chủ đích của chuyến đi. Cung cách khám phá 'các vùng ven' của những địa danh đẹp sẽ là cốt yếu. Vậy nên bài viết sau chuyến đi cũng sẽ mang một cốt cách chi li đến những chốn 'hốc bà tó' của bọn mình đến với các bạn.
Gõ đến đây thì lại nhớ đến đến lời của vài bạn trong Phượt nói rằng: bác Dũng khoái đi những chốn... hổng ai đi, giống... tui quá (he he).

Thật tế là những chốn 'hổng ai đi' vậy nhưng có thể có khối cái đẹp mê hoặc cả lòng người đấy. Và khi đã có nhiều người đi công bố về những chổ 'hổng ai đi', biết đâu sau này lại trở thành nơi 'khối người đến' thì sao.

Lang mang tán phét một tý, giờ chỉ mong sức khỏe ngon cơm như hôm kia hôm kìa - thời tiết vẫn tốt như tháng kỉa tháng kia với chút nắng chút mưa lăm dăm (biển Đông hiện thời vẫn đầy mây theo như vệ tinh thời tiết, hic!) là bọn mình lại vi vu lên đường!

Chuyến này sẽ đi openbus chạy chiều tối, tới sáng là có thể đến nơi bọn mình cần đến (dự định là Vạn Giã) và bắt đầu từ đây sẽ di chuyển bằng chiếc Win lang thang mọi nơi. Và do ngẫu hứng nên lộ trình từ đây đến lúc về có thể trên ngàn cây số.

Nhưng 'hãy đợi đấy' vậy, chắc chắn rằng trước chuyến đi mình sẽ có bài nói sơ về những địa danh sẽ qua trong chuyến này. Và khi nào bạn thấy Du lịch, GO! 'thầm lặng' không được cập nhật như bình thường thì chắc mẫm bọn mình đang vi vu trên những nẻo đường...

Điền Gia Dũng - Du lich, GO!

Điệu sli giang của người Nùng

Người Nùng ở thôn Cao Tuyên, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là những người di cư từ tỉnh Cao Bằng về theo chính sách của Nhà nước từ năm 1977.

Sinh sống trên miền đất mới gần 40 năm, người Nùng ở đây vẫn giữ được những nét văn hóa rất riêng của mình. Họ vẫn mặc trang phục truyền thống, nói tiếng của dân tộc mình, hát những làn điệu Sli, điệu lượn, điệu ví đằm thắm trong những dịp lễ, tết…

Cụ Lục Văn Chính, gần 90 tuổi nhớ lại: "Trước đây, chúng tôi sống tại thôn Pô Tán, xã Nũng Nặm, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ở quê cũ, chúng tôi sống trên núi đá, không có đất canh tác, cuộc sống vô cùng khó khăn, người dân chủ yếu kiếm sống qua ngày bằng việc săn bắt thú rừng, đào măng, đào củ mài.

Trước cuộc sống khó khăn của đồng bào, năm 1977, Nhà nước có chủ trương đưa 26 hộ gia đình người Nùng di cư về đây để xây dựng cuộc sống mới."

< Dạy hát Sli giang.

Có thể nói, nét nổi bật nhất trong văn hóa của người Nùng nơi đây là những làn điệu Sli mượt mà làm mê đắm lòng người. Ông Lương Văn Vinh, người được bầu là có uy tín và cũng là người hát Sli hay nhất thôn Cao Tuyên nói: "Hiện nay, thôn còn khoảng 20 người biết hát, chúng tôi thường đi biểu diễn giao lưu với các tỉnh bạn như Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên… và hát trong các cuộc Liên hoan tiếng hát các dân tộc toàn tỉnh. Tuy thôn chưa thành lập câu lạc bộ văn nghệ truyền thống nhưng mọi người vẫn có ý thức truyền đạt lại những điệu hát Sli cho con cháu."

Ông Vinh cho biết thêm cùng gọi là Sli nhưng Sli của các nhánh dân tộc Nùng có sự khác nhau. Chẳng hạn, với nhóm người Nùng Giang có Sli Giang; Nùng Cháo có Sli Sình Làng, Cổ Lẩu; Nùng Phản Slình có Sli Phản Slình... Mỗi làn điệu lại có cách thể hiện thế giới tâm hồn riêng thông qua những câu Sli. Nhưng, tất cả đều giống nhau ở cách biểu diễn là hát xướng.

Nội dung của hát Sli phong phú và hấp dẫn, mang đậm dấu ấn văn hóa của đồng bào Nùng. Đồng bào Nùng thường hát Sli khi dịp Tết đến xuân về, khi có đám cưới, lễ hội... Khi điệu Sli vang lên trầm bổng là đồng bào đang đắm mình trong tiếng lòng của chính mình.

Ông Vinh kể: “Từ khi còn nhỏ, tôi thường được nghe các anh chị, các cô, các bác ở trong thôn hát Sli Giang. Đặc biệt là những ngày đầu xuân năm mới, hoặc những đêm trăng sáng, nhiều đôi nam thanh nữ tú thường chia làm 2 nhóm ngồi hát đối đáp với nhau, qua những cuộc hát như thế có nhiều đôi đã nên vợ, nên chồng. Để hát Sli hay, ngoài chất giọng tốt, phải tập trung, phải biết luyến láy và có sự cảm thụ, cách thể hiện làm sao để lời hát dễ đi vào lòng người”.

Trong lời hát của điệu Sli Giang luôn có sự liên tưởng, ví von, thông qua những hình ảnh cụ thể để nói lên tâm tình con người. Dù lời hát nói về thiên nhiên, cây cỏ… thì cuối cùng vẫn là để nói về tình cảm, tâm trạng và ước vọng của con người. Khi hát Sli không cần nhạc cụ hay điệu múa đi kèm.

Người hát có thể hát bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là có đối tượng để hát đối, hát cùng hoặc là đối tượng được hướng đến trong bài hát. Ví dụ nếu hát về mùa Xuân thì có bài Chào mùa Xuân: Mùa Xuân đến ngày nào cũng tốt/ Già trẻ gái trai ai cũng muốn được đi chơi. Trong lao động sản xuất, người Nùng thường hát những điệu Sli có nội dung cổ vũ, động viên hăng say lao động, sản xuất hoặc nhắc nhở mọi người nên chăm chỉ lao động, bằng những câu thơ nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa nhiều hàm ý: Ngày ngày đi chơi chỗ này, chỗ khác/Không nhớ việc nhà để cây đỗ tương ra hoa mà không vun được.

< Có nhiều làn điệu Sli của các nhánh dân tộc Nùng.

Trưởng thôn Hoàng Văn Pảo cho hay hiện nay do sống chung với các dân tộc anh em, người Nùng ở thôn Cao Tuyên tiếp nhận thêm những văn hóa của các dân tộc khác nên các nét văn hóa truyền thống của dân tộc Nùng ở Cao Tuyên đã có phần mai một. Từ thực tế trên, vài năm gần đây chúng tôi khuyến khích thế hệ trẻ học các làn điệu Sli và mong muốn chúng không quên văn hóa gốc của dân tộc mình.

Ông Nguyễn Xuân Sửu, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Sơn Dương cho biết trong những năm qua, để gìn giữ và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của các dân tộc, huyện Sơn Dương đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và đã thành lập các Câu lạc bộ nghệ thuật trên địa bàn như Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Ninh Lai; Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Sơn Nam, Câu lạc bộ hát Then ở xã Tân Trào...

Để gìn giữ điệu Sli của dân tộc Nùng Giang ở thôn Cao Tuyên, ngoài việc khuyến khích những người biết hát truyền dạy cho thế hệ trẻ, chúng tôi còn đẩy mạnh tuyên truyền, bồi dưỡng niềm say mê, yêu thích, tự hào cho những thế hệ sau đối với những làn điệu dân ca, dân vũ nói chung và điệu Sli Giang của dân tộc Nùng nói riêng. Qua đó góp phần bảo tồn bền vững những nét văn hóa truyền thống. Đây cũng chính là điểm nhấn, thu hút khách du lịch về với quê hương cách mạng.

Du lịch, GO! - Theo TTXVN, internet

Xóm đèn lồng 50 năm tuổi ở Sài Gòn

“Từ sáng đến giờ tôi đã giao được hơn 2000 chiếc lồng đèn rồi đó. Năm nay, hàng được sản xuất nhiều, ra bao nhiêu hết bấy nhiêu”. Một chị bán hàng trung thu ngay ngõ vào nhà thờ Phú Bình trên đường Lạc Long Quân (P.5 Q.11 TP.HCM) vui vẻ khoe với chúng tôi như thế…

< Những gian hàng lồng đèn ở xóm lồng đèn Phú Bình.

Hồi sinh một nghề “hiếm”

Buổi sáng cuối tháng 7 đầu tháng 8 âm lịch, con hẻm dẫn vào xóm đạo Phú Bình nhộn nhịp hơn ngày thường. Những gian hàng bán lồng đèn trung thu trưng bày nhiều sản phẩm khá đẹp. Những chiếc lồng, đèn giấy kiếng truyền thống có dịp khoe sắc.

Trên chiếc ba gác máy, một thanh niên đang cẩn thận xếp từng chiếc lồng đèn lên xe. Đủ hình thù con vật, nào bướm, cua, thỏ, gà…rất nhiều mẫu mã đẹp mắt. Anh thanh niên vừa làm vừa cho biết, một đơn vị hoạt động từ thiện đặt 4.000 chiếc lồng đèn trong dịp trung thu này. Do số lượng lớn, nên anh phải giao hàng theo nhiều đợt.

Anh thắc mắc: “Không hiểu vì sao những năm trước mãi lực lồng đèn giấy kiếng mỗi năm mỗi thấp nhưng năm nay lại tăng cao. Có được như vậy chúng tôi mới tiếp tục duy trì được làng nghề truyền thống của cha ông để lại từ hơn 50 năm nay”.


< Chuyển hàng lên xe.

Tính từ đầu ngõ vào đến nhà thờ khoảng 100m có chừng 5 gian hàng bán lồng đèn giấy kiếng. Họ là những hộ vừa sản xuất vừa kinh doanh lâu đời mặt hàng này.Ghé vào một gian hàng, cô gái trẻ Nguyễn Thị Bích đang cặm cụi chẻ từng chiếc nan làm khung sườn lồng đèn. Bàn tay của cô gái mềm mại, nhịp nhàng…

Là nhân viên kế toán của một công ty trong thành phố, Bích hiện 28 tuổi, đã nghỉ việc nhiều năm về với gia đình, tiếp tục nối gót cha ông làm nghề truyền thống.

Phía trong cửa hàng, cụ Nguyễn Thị Hoa, mẹ Bích đang ráp những khung lồng đèn. Thực ra cả nhà bắt tay vào công việc sản xuất lồng đèn ngay từ sau Tết. Trải qua 8 tháng lao động cần cù, không mệt mỏi, hàng chục ngàn chiếc lồng đèn với đủ loại hình thù, màu sắc ra đời, tỏa ra muôn hướng đem lại niềm vui cho trẻ thơ trong đêm rằm tháng 8.

Bích cho biết sức bán năm nay tăng cao. Đây là tín hiệu đáng mừng, nhất là trong bối cảnh hàng điện tử ngoại nhập vẫn ồ ạt tấn công các món hàng truyền thống…

Một cụ già trong xóm lồng đèn nhận xét: đèn năm nay bán chạy hơn có nghĩa là, sau nhiều năm chơi các loại đèn ngoại nhập, trẻ thơ Việt Nam muốn trở về với cái mộc mạc, vẻ nét đẹp thâm sâu của những chiếc lồng đèn giấy kiếng. Phải chăng cái hồn của dân tộc đang trở lại mạnh mẽ ?

Lồng đèn “Báo Đáp”

Xóm lồng đèn Phú Bình được hình thành vào giữa thập niên 1950. Nơi đây là một quần cư của những gia đình có gốc gác từ miền Bắc. Theo những bậc cao niên còn sót lại, xuất phát từ làng nghề lồng đèn ở Nam Định. Họ mang vào Nam nghề truyền thống của cha ông, sống quay quần cùng nhau duy trì và phát triển. Ban đầu vài chục hộ, sau lên cao điểm tới hơn 200 hộ và hiện nay con số chỉ còn một nửa, chủ yếu là cầm cự để giữ nghề.

< Những cô gái trẻ thực hiện công đoạn cuối cùng: trang trí cho lồng đèn.

Thời vàng son của nghề lồng đèn phải kể đến những năm trước 1975. Hồi ấy, chiếc lồng đèn là cả một niềm mơ ước của những đứa trẻ Sài Gòn. Nét hoa văn rực rỡ, hình tượng phong phú: hình con cá, con tôm, nai…đủ màu vàng, đỏ, xanh đã làm các em nhỏ ngẩn ngơ. Vài nan tre phất lên tấm giấy kính, những chiếc lồng đèn đã gợi cho các em thấu hiểu nỗi nhọc nhằn của những người thợ làm nên sản phẩm.

Đến nay, từ những chiếc lồng đèn giấy kính, bàn tay và khối óc người thợ đã sáng tạo ra cái mới, theo từng nhịp bước của thời đại. Mẫu mã mỗi năm mỗi khác, buộc lòng những người còn nặng lòng với nghề thủ công này phải sáng tạo ra những chiếc lồng đèn phù hợp.

Chúng tôi ghé vào căn nhà ở gần chợ Phú Bình. Ông Nguyễn Văn Quyền năm nay đã 54 tuổi đang ngồi giữa đống nan tre. Bàn tay ông khéo léo uốn từng những chiếc nan ra lồng đèn hình con gà. Dừng tay tiếp chúng tôi ông nói : “đến đời tôi đã 3 đời làm lồng đèn. Lồng đèn ở Phú Bình này còn có tên là lồng đèn Báo Đáp. Theo ông bà tôi kể lại nguồn gốc thưở xưa cả làng Báo Đáp di dân vào đây đem theo nghề lồng đèn. Ngày nay, gọi là lồng đèn Báo Đáp hay báo đáp thì suy cho cùng cũng một ý nghĩa như nhau. Báo Đáp là tên làng cũng có nghĩa là chúng tôi duy trì nghề của cha ông nhằm báo đáp công ơn tổ tiên dày công gầy dựng”.

Ông Quyền dõi đôi mắt về hướng xa xăm. Ông nhớ lại những nhọc nhằn của một đời làm nghề. Ông cho biết, cứ sau ăn tết xong là cả nhà lao vào cuộc. Ông đến tận ngã tư Bình Phước vào các vựa lồ ô (một loại giống tre nhưng rỗng ruột) mua nguyên liệu tập kết ngay tại nhà. Từ đó, mỗi người mỗi công đoạn cưa cắt, chẻ nan. Có 10 chủng loại gia đình ông thường làm là các loại thú, máy bay, tàu thủy. Cứ một cây lồ ô dài 5m có thể cho ra từ 80 – 100 chiếc lồng đèn các loại.

< Anh Quyền và vợ ráp khung lồng đèn.

Công việc của gia đình ông cứ thế trôi theo ngày tháng. Ông chỉ sản xuất ra khung sườn rồi giao lại cho một nhóm thợ dán giấy kính. Nhóm thợ này phải là những người có tay nghề cao để có thể cho ra sản phẩm vừa nhanh vừa đẹp. Công đoạn cuối cùng là trang trí cho lồng đèn được giao cho nhóm thợ chuyên vẽ hoa văn. Những đường nét độc đáo vừa giản dị nhưng lại thâm thúy tạo hồn cho chiếc lồng đèn khởi sắc.

Mỗi người mỗi công việc. Ai nấy cũng đều có việc làm quanh năm. “Làm một mùa, ăn cả năm” quả là đúng với nghề làm lồng đèn. Ông Quyền cho biết sau trung thu cả nhà lại bắt tay vào làm đèn ngôi sao giáng sinh. Sau giáng sinh cho đến tết là quãng thời gian người thợ làm lồng đèn được nghỉ ngơi.

Từ giã ông Quyền, chúng tôi được ông báo cho một tin vui: hai ngày nữa ông sẽ giao hàng cho một mối ở tỉnh, với hơn 2.000 chiếc lồng đèn. Ông mời chúng tôi trở lại để ghi hình hoạt cảnh này...

Chúng tôi ra về khi xóm lồng đèn Phú Bình đã lên đèn, với hi vọng sẽ trở lại…Có điều cảm nhận rõ nhất ở đây là năm nay không khí dường như tươi vui hơn,   bởi đèn giấy kiếng đã trở lại… từ đó tỏa đi khắp mọi miền đất nước, chào đón một mùa Trung thu yên ấm, thanh bình.

Du lịch, GO! - Theo Trần Chánh Nghĩa (Vietnamnet)

ĐGD: Mua và chơi lồng đèn VN để ủng hộ hàng trong nước, vực dậy những làng nghề truyền thống của cha ông đã có từng bao đời nay. Cảm ơn người tiêu dùng của chúng ta!

Bức tranh mùa vàng

Bạn hỏi “Lúa nơi ấy đã chín vàng rồi nhỉ?”. Những ký ức về một Tây Bắc - Đông Bắc thu lồng lộng gió trời và biển lúa rập rờn cánh sóng đủ khiến lòng lữ khách phải xôn xao.

< Lúa bắt đầu chín rộ vàng tươm trên những nẻo đường vùng cao...

Tháng 9, tháng 10. Dân đi “phượt” trở nên cuống quýt. Ấy là vì miền núi cao phía Bắc đã vào thu, lúa chín vàng trên những cánh đồng, mùa gặt đang trở nên rộn ràng, hối hả. Những chuyến đi háo hức và không bao giờ là cũ, tranh thủ mỗi cuối tuần vội vã. Bạn đồng hành gặp nhau trên đường thiên lý, cùng chia sẻ những khoảnh khắc của bình yên.

1. Đường mây Ý Tý

< Dân “phượt” đi thăm lúa ở Dền Sáng (Bát Xát, Lào Cai).

Nằm cách Hà Nội hơn 300km về phía Bắc, Ý Tý nổi tiếng và hấp dẫn “dân phượt” bởi những cung đường trong mây. Trở nên lộng lẫy hơn vào mùa lúa, bồng bềnh trong nắng thu, thân thiện bởi những nụ cười Hà Nhì mộc mạc... những địa danh Mường Hum, Dền Sáng, Dền Thàng, Lao Chải, A Lù, Hồng Ngài đã thành những điểm đến không thể bỏ qua.

Hành trình: 2 ngày rưỡi. Di chuyển bằng tàu hỏa hoặc ôtô đêm từ Hà Nội - Lào Cai và ngược lại.

Thuê xe máy tham quan các địa danh, chi phí khoảng 200.000 đồng /ngày.

2. Kỳ vĩ  Mù Căng Chải

< Đi gặt (Púng Luông - Mù Căng Chải).

Dọc theo quốc lộ 32C là thiên đường lúa của Việt Nam, nơi những địa danh La Pán Tẩn, Chế Cù Nha, Dế Xu Phình, Hồ Bốn… khiến du khách choáng ngợp bởi sự kỳ vĩ, mênh mông của “lúa reo đỉnh trời”. Đây là cung đường phù hợp với các lịch trình bằng ôtô riêng hoặc xe gắn máy, cũng thích hợp cho 2 ngày cuối tuần với tổng chiều dài cung đường khoảng 600km.

Do Mù Căng Chải là điểm đến nổi tiếng và thuận lợi nên các nhóm đi tính toán kỹ về việc ăn uống và thuê khách sạn, nhà nghỉ tránh trường hợp cháy phòng, cháy đồ ăn.

Nên chủ động chuẩn bị đồ ăn picnic, lều trại, hoặc các phương án nghỉ đêm hợp lý như ở nhờ nhà dân, liên hệ với chính quyền xã để được giúp đỡ. Đặc biệt lưu ý vấn đề an toàn khi tham gia giao thông.

3. Mùa vàng Cao Phạ

< Niềm vui mùa gặt.

Cao Phạ là thung lũng lúa lộng lẫy nằm dưới chân đèo Khau Phạ, cách Tú Lệ - một điểm “vàng” mùa lúa chín không xa về phía bắc, cũng nằm trên quốc lộ 32C. Để khám phá Tú Lệ, Cao Phạ phương án di chuyển tối ưu là xe máy, để có thể len lỏi vào các đường mòn liên xã, khám phá Lìm Thái, Lìm Mông, Púng Luông, Nậm Búng, Nậm Có.

Đến Cao Phạ đừng quên thưởng thức cơm nếp mới ăn với thịt lợn mán nướng. Trong trường hợp bạn có ít thời gian, độ 1 ngày rưỡi thì Cao Phạ là một chọn lựa hợp lý

4. Quản Bạ - Đồng Văn

< Mùa vàng Quản Bạ (Hà Giang).

Thung lũng Tam Sơn - Quản Bạ với ngọn núi đôi danh tiếng trong tiếng chày đập lúa mùa gặt sẽ là những dư âm khó quên cho một hành trình khám phá Đồng Văn cao nguyên đá. Tuy không có quá nhiều những cánh đồng lúa do điều kiện địa hình, nhưng đã có thì vô cùng ấn tượng. Bức tranh lúa ở Cán Tỷ, Lùng Tám, Sáng Pá, Lũng Cú, Đồng Văn sẽ là phần thưởng xứng đáng cho những người “chịu khó” đi đường dài gập ghềnh và “mò mẫm”.

Thông thường, du khách có thể đi xe đêm lên Hà Giang, thuê xe máy 250.000 đồng/ ngày để thực hiện chuyến đi. Ôtô riêng cũng là một phương án phù hợp.

5. Lộng lẫy Mường Hoa

< Thung lũng Mường Hoa (Sapa, Lào Cai).

Nằm ở gần điểm du lịch nổi tiếng Sa Pa, thung lũng Mường Hoa và các cánh đồng lân cận là một điểm đến đặc biệt trong mùa lúa chín. Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên trong trẻo và thân thiện, sự có mặt của đồng bào các dân tộc trong ngày mùa rộn ràng sẽ đem lại cho du khách nhiều trải nghiệm và những chia sẻ thú vị với người dân bản địa.

Hãy kết hợp đi thăm lúa ở Mường Hoa nếu bạn đã có kế hoạch đi du lịch Sa Pa thời điểm này.

6. Giấc mơ Pù Luông

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông với những cánh đồng lúa nằm xen giữa những dãy núi đá vôi và những bản làng người Thái, người Mường bình yên nép mình bên cau cọ. Đã có đường ôtô đến các bản Cao, bản Trình, bản Hin, bản Nủa.


< Lúa ở Kho Mường - Pù Luông (Thanh Hóa).

Các bản ở sâu trong núi hơn như Kho Mường, Cao Hoong, Son-Bá-Mười lại là đích đến của những hành trình trekking, khám phá bản thân và điểm đến.

Một số công ty lữ hành thường xuyên tổ chức tour 3 ngày, trong đó có hành trình “đi bộ” dành cho du khách nước ngoài, chi phí khoảng 2.000.000 đồng (tour xe máy), 3.000.000 đồng (tour ôtô) trọn gói, có hướng dẫn viên.
Nếu bạn tự đi “bụi” sẽ tiết kiệm hơn rất nhiều.

Mỗi năm thu lại về. Bức tranh mùa lúa càng trở nên sống động bởi những con người luôn muốn trải nghiệm cuộc sống bản địa và khám phá tự nhiên.

Du lịch, GO! - Theo Băng Giang (TTO)

Rau rừng, cá thác ở Gia Lai

Chúng tôi trở lại thành phố Pleiku sau nhiều năm xa cách, vì vậy ai cũng muốn tìm lại một bữa ăn đậm chất rừng hoang sơ ở nơi này. Người bạn thổ địa phố núi nháy mắt: “Thì đi ăn rau rừng và cá thác cho thỏa cơn thèm”…

< Rau rừng ăn với mắm cua.

Từ đọt rau rừng bình dị…

Bữa cơm miền cao nguyên Gia Lai bắt đầu bằng món rau xanh luộc. Những đọt lá xanh ngăn ngắt, cứng cáp, tươi non có vẻ khá quen, nhưng khi hỏi tên nó thì người địa phương cũng chỉ biết đáp gọn lỏn: “Rau rừng!”. Nhưng rau rừng là rau gì? Theo hình dáng thì loại này rất giống rau lủi, vốn là đặc sản chỉ có ở vùng rừng Trà My (Quảng Nam), nhưng xét về hương vị, rau rừng Gia Lai thiếu đi chất nhớt và cả vị thuốc, dù độ giòn ngọt thì tương tự.

< Đọt rau rừng tươi non ăn kèm món lẩu.

Có người lại cho rằng nó na ná rau tàu bay hay đọt dớn… Vừa ăn, chúng tôi vừa tiếp tục đoán mò về gốc gác của thứ rau ấy, nhưng rồi nhất trí rằng có lẽ cứ gọi theo đúng cách của người Gia Lai là hay nhất: rau rừng!

Theo lời người dân địa phương, rau rừng “rộ” ở Gia Lai chỉ khoảng chừng hơn một năm trở lại đây, trước đây là món “chống đói” của bộ đội Trường Sơn.

Được trồng khá rộng rãi nên ở đâu cũng có, lúc nào cũng có, nhưng rau ngon nhất là ở đầu mùa mưa, khi cây nảy những đọt non xanh mướt, bóng lưỡng. Nó gắn liền với chất rừng núi của vùng Gia Lai nên người phương xa ghé Gia Lai, muốn tìm thứ gì đó mới lạ cho bữa ăn thì được giới thiệu ngay.

< Rau rừng nấu canh cua núi.

Nghe nói rau rừng đã có mặt cả trong các siêu thị ở Pleiku, được bán với giá khoảng hơn ba chục ngàn đồng một ký.

Chất rừng ở loại rau này không nằm ở sự ngon ngọt mà ở vị mát, dù ban đầu cứ tưởng nó chẳng có mùi vị gì. Rau rừng còn ngon ở độ giòn, giả như có nấu quá lửa thì vẫn không bị nát. Cách chế biến ngon nhất là luộc hoặc xào tỏi, chấm với mắm cua (làm từ cua đồng giã nát, lọc xác vắt lấy nước rồi phơi nắng) màu nâu đất ánh sắc vàng gạch, mặn mòi.

< Cá suối nấu canh rau rừng.

Khẳng định như thế vì món rau này từng được mang ra “thí nghiệm” với tất cả các loại nước chấm, kể cả muối tiêu chanh, nhưng không có loại nào vượt qua được mắm cua. Nghe đâu người Gia Lai xa quê lên cơn “ghiền” rau rừng vẫn phải nhờ người quen để gửi vài bó rau theo đường hàng không để ăn cho đỡ thèm.

Riêng mắm cua thì không dễ kiếm, lại khó mang theo nên được thay bằng nước mắmkho quẹt kiểu Nam bộ, tuy không đúng chất rừng nhưng xem ra cũng chấp nhận được.

(*) Trên bàn tiệc, món rau rừng còn được bỏ vào lẩu cá, đa phần là những loài cá đánh bắt được từ sông Sê San.

…Đến tận hưởng cá tiến vua

< Cá anh vũ chiên gừng.

Dòng sông hùng vĩ, lắm thác ghềnh này ngoài khả năng thủy điện còn chứa trong lòng những loài thủy sản quý hiếm như cá sọc dưa, cá lăng, cá chiên, thậm chí cả loài cá anh vũ!

Nhìn thấy “cá anh vũ” trong thực đơn, thực khách khấp khởi, vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì có người ngược ra tận vùng Việt Trì, Phú Thọ, sẵn sàng bỏ cả triệu đồng cho một đĩa cá anh vũ mà đâu có cơ may thưởng thức, còn lo vì giữa đại ngàn mà có cá anh vũ chễm chệ trong thực đơn thì chắc đó là… “đồ nhái”!

< Cá anh vũ trên sông Sê San.

Theo mô tả của người am hiểu về cá ở xứ này, cá anh vũ có dáng dấp khá giống cá trôi, nhưng vảy có sắc óng ánh, phần đầu thuôn và đặc biệt là cặp môi hình tam giác rất dày (có nơi ngoài Bắc còn gọi là cá lợn). Xin chủ quán cho ngắm mặt mày con cá này, chủ quán đành lắc đầu phân bua rằng thường trong ngày chỉ có một con, mà đã chế biến sơ rồi, có muốn xem cũng chịu.

Cả thành phố Pleiku nghe đâu chỉ có đôi ba quán có bán loài cá này. Những ngư dân dọc sông Sê San thường chặn bắt cá anh vũ ở vùng nước trong, nhiều hang hốc, chủ yếu ở khu vực thủy điện Ialy.

< Chả cá anh vũ.

Cá rất có giá nên lâu ngày ngư dân có lẽ cũng quên vị cá, bởi đánh bắt được là đành chép miệng “gả” lại cho các nhà hàng. Còn việc cá không còn nguyên vẹn vì được mổ sạch ruột ngay khi đánh bắt được để tránh bị trương phình do cá thường bốc mùi ươn nhanh.
Nghe đâu có đơn vị ngoài Bắc đã nhân giống thành công loài cá này. Nếu quả vậy thì sắp đến thời ai cũng có thể thưởng thức “món tiến vua” mà không cần đi xa vất vả tìm kiếm. Thịt cá chắc nhưng vẫn mềm mại, trắng và thơm, thường được làm thành vài món là nướng mọi, nướng muối ớt, hấp, nấu lẩu măng chua.

Hấp dẫn hơn cả là món chiên giòn với gừng, ban đầu cứ ngỡ là thịt gà nhưng cắn vào thì thơm ngon hơn nhiều. Ngon không chỉ vì thịt cá, mà còn bởi được tận hưởng cảm giác “làm vua” trên bàn tiệc đại ngàn, ai ăn cũng cứ luôn miệng tấm tắc khen. Chứ có lẽ nếu chưa biết danh cá anh vũ, không ít người sẽ vẫn dửng dưng vì… không biết nó quý! Sự đời nhiều khi là thế...

(*) Rau rừng thường được ăn kèm với các món “thịt lam” - món ăn được làm từ thịt dê, heo, gà hoặc bò ướp kỹ với riềng, tỏi, gừng rồi nhồi vào ống tre lồ ô, nướng trên bếp lửa.

Du lịch, GO! - Theo Hiền Danh (Doanh nhân Saigon) và nhiều nguồn ảnh khác.

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Quyến rũ dòng thác A Nô

Đến huyện miền núi A Lưới (Thừa Thiên - Huế), hỏi dân địa phương nên thăm cảnh đẹp nào, chắc chắn du khách sẽ được chỉ đến thác A Nô (A Nôr). Thác cách trung tâm huyện A Lưới 3km thuộc làng Việt Tiến, xã Hồng Kim. Người dân A Lưới có câu: “Chưa thăm A Nôr như chưa đến A Lưới”. 

Phải băng qua vài ngọn đồi mới đến được thác A Nô nhưng trên đường đi, du khách đã có thể thả mình vào không gian trong lành của thiên nhiên. Men theo con đường đất, nhiều người sẽ gặp những tảng đá rêu phong với đầy đủ kích thước. Có tảng đá to được tận dụng làm giường ngủ dưới tán cây rất mát mẻ, lại có nhiều tảng đá rộng bằng bàn ăn là nơi để khách du lịch “nhâm nhi”.

Đường đi khá gập ghềnh, nhưng đã có “dàn giao hưởng” của tiếng chim hót, vượn hú, tiếng rì rầm của nước trong, tiếng lá cây cổ vũ nên không ai cảm thấy mệt mỏi.

< Đường vào thác ANôr.

Không gian A Nô đúng là có thể xoa dịu sự căng thẳng cuộc sống thường nhật, làm cho mọi người ai cũng thấy dễ chịu và sảng khoái. Đặc biệt, khi đến nơi, đắm mình vào dòng nước mát lạnh thì người khó tính nhất cũng có cảm giác thích thú.

< Thác A Nôr.

Từ trên cao dòng nước trắng xóa đổ xuống thành ba ngọn thác liên hoàn làm nên một thác A Nô hoang sơ và quyến rũ. Trên cùng là ngọn thác ngắn nhất và cuối cùng là ngọn thác cao nhất. Phía dưới chân thác là một hồ nước khá rộng. Nơi đây có thể bơi lội và tha hồ xông hơi nước mát.

< Dòng nước mát lạnh từ thác tạo thành suối.

Do đổ từ độ cao hơn trăm mét nên thác A Nô luôn có một lớp sương mờ bao phủ xung quanh thác với những thảm thực vật xanh ngắt, không khí mát lạnh vì bụi nước lan tỏa. Vách núi đá cheo leo luôn có nhiều hoa đỗ quyên rực đỏ càng làm A Nô thêm thơ mộng. Nhiều người ví A Nô như một máy điều hòa tự nhiên, chống lại cái nắng gay gắt và gió Lào khô khốc, bức bối.

< Núi Chóp Mũ mờ sương.

Ở khu du lịch sinh thái A Nô có ngọn Chóp Mũ cao chót vót quanh năm mây phủ cùng những cánh rừng già, là khu vực bảo tồn nhiều loài động - thực vật quý.

< Làng Việt Tiến.

Đến đây du khách còn khám phá những nét văn hóa của người dân tộc Pa Kô, Tà Ôi, Pa Hi, Cơ Tu và Vân Kiều cùng chung sống ở đại ngàn A Lưới. Đặc biệt có làng Việt Tiến nằm ngay lối vào khu du lịch, nơi du khách dừng chân thưởng thức rượu cần, nghe cồng chiêng và xem điệu múa Cha Chấp truyền thống của người Pa Kô. Làng có tên như thế vì được Công ty may Việt Tiến tài trợ xây dựng, gồm 22 hộ dân với 22 nếp nhà sàn.

< Đội cồng chiêng của làng.

Thời kháng chiến chống Mỹ, đây là điểm ra mắt đội du kích xã Hồng Kim. Dừng chân ở cổng làng Việt Tiến, ta có thể nghe thấy âm thanh nước đổ đồng vọng với tiếng chim rừng ríu rít. Cách chân thác 1km, cảm giác mát lạnh, trong lành ập đến khiến du khách như quên cái mỏi mệt sau chuyến hành trình dài.

Nước A Nôr đổ ra thành suối rộng, người dân quanh vùng thường đến đây bắt ốc, cua, cá. Lội qua suối, bạn có thể thấy những chú cá leo búng mình lên các tảng đá rất điệu nghệ.

Người già kể, xưa, A Nôr là nơi trú ngụ nhiều con vật nhà trời. Ngày nọ, người đàn ông trong bản thấy con ếch to, anh ta giương nỏ bắn. Con ếch chết, người đàn ông về nhà đổ bệnh và chết theo. Dân làng thương nhớ và lấy tên ông đặt tên cho ngọn thác. A Nôr gồm ba ngọn thác liên hoàn cao 8m, 60m, 120m. “Đứng ở đỉnh A Nôr sẽ thấy được toàn cảnh A Lưới”, Quỳnh Liên, người già trong bản cho biết.

Nước A Nôr đổ từ trên cao xuống trông như suối tóc của thiếu nữ. Hai bên thác là những vạt hoa rừng tím, đỏ điểm tô thêm cảnh sắc. Mùa hè, dân bản và du khách tìm đến đây mỗi ngày hàng trăm lượt. A Nô được ví như như chiếc máy điều hòa giúp bà con chống lại cái nắng gay gắt trên dãy Trường Sơn. Trên đường ra, bạn có thể ghé bản làng Việt Tiến mua một số hàng lưu niệm truyền thống và nghe những bài dân ca trữ tình của người Pa kô.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ TTCT, QĐND và nhiều nguồn khác