Người Nùng ở thôn Cao Tuyên, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là những người di cư từ tỉnh Cao Bằng về theo chính sách của Nhà nước từ năm 1977.
Sinh sống trên miền đất mới gần 40 năm, người Nùng ở đây vẫn giữ được những nét văn hóa rất riêng của mình. Họ vẫn mặc trang phục truyền thống, nói tiếng của dân tộc mình, hát những làn điệu Sli, điệu lượn, điệu ví đằm thắm trong những dịp lễ, tết…
Cụ Lục Văn Chính, gần 90 tuổi nhớ lại: "Trước đây, chúng tôi sống tại thôn Pô Tán, xã Nũng Nặm, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ở quê cũ, chúng tôi sống trên núi đá, không có đất canh tác, cuộc sống vô cùng khó khăn, người dân chủ yếu kiếm sống qua ngày bằng việc săn bắt thú rừng, đào măng, đào củ mài.
Trước cuộc sống khó khăn của đồng bào, năm 1977, Nhà nước có chủ trương đưa 26 hộ gia đình người Nùng di cư về đây để xây dựng cuộc sống mới."
< Dạy hát Sli giang.
Có thể nói, nét nổi bật nhất trong văn hóa của người Nùng nơi đây là những làn điệu Sli mượt mà làm mê đắm lòng người. Ông Lương Văn Vinh, người được bầu là có uy tín và cũng là người hát Sli hay nhất thôn Cao Tuyên nói: "Hiện nay, thôn còn khoảng 20 người biết hát, chúng tôi thường đi biểu diễn giao lưu với các tỉnh bạn như Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên… và hát trong các cuộc Liên hoan tiếng hát các dân tộc toàn tỉnh. Tuy thôn chưa thành lập câu lạc bộ văn nghệ truyền thống nhưng mọi người vẫn có ý thức truyền đạt lại những điệu hát Sli cho con cháu."
Ông Vinh cho biết thêm cùng gọi là Sli nhưng Sli của các nhánh dân tộc Nùng có sự khác nhau. Chẳng hạn, với nhóm người Nùng Giang có Sli Giang; Nùng Cháo có Sli Sình Làng, Cổ Lẩu; Nùng Phản Slình có Sli Phản Slình... Mỗi làn điệu lại có cách thể hiện thế giới tâm hồn riêng thông qua những câu Sli. Nhưng, tất cả đều giống nhau ở cách biểu diễn là hát xướng.
Nội dung của hát Sli phong phú và hấp dẫn, mang đậm dấu ấn văn hóa của đồng bào Nùng. Đồng bào Nùng thường hát Sli khi dịp Tết đến xuân về, khi có đám cưới, lễ hội... Khi điệu Sli vang lên trầm bổng là đồng bào đang đắm mình trong tiếng lòng của chính mình.
Ông Vinh kể: “Từ khi còn nhỏ, tôi thường được nghe các anh chị, các cô, các bác ở trong thôn hát Sli Giang. Đặc biệt là những ngày đầu xuân năm mới, hoặc những đêm trăng sáng, nhiều đôi nam thanh nữ tú thường chia làm 2 nhóm ngồi hát đối đáp với nhau, qua những cuộc hát như thế có nhiều đôi đã nên vợ, nên chồng. Để hát Sli hay, ngoài chất giọng tốt, phải tập trung, phải biết luyến láy và có sự cảm thụ, cách thể hiện làm sao để lời hát dễ đi vào lòng người”.
Trong lời hát của điệu Sli Giang luôn có sự liên tưởng, ví von, thông qua những hình ảnh cụ thể để nói lên tâm tình con người. Dù lời hát nói về thiên nhiên, cây cỏ… thì cuối cùng vẫn là để nói về tình cảm, tâm trạng và ước vọng của con người. Khi hát Sli không cần nhạc cụ hay điệu múa đi kèm.
Người hát có thể hát bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là có đối tượng để hát đối, hát cùng hoặc là đối tượng được hướng đến trong bài hát. Ví dụ nếu hát về mùa Xuân thì có bài Chào mùa Xuân: Mùa Xuân đến ngày nào cũng tốt/ Già trẻ gái trai ai cũng muốn được đi chơi. Trong lao động sản xuất, người Nùng thường hát những điệu Sli có nội dung cổ vũ, động viên hăng say lao động, sản xuất hoặc nhắc nhở mọi người nên chăm chỉ lao động, bằng những câu thơ nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa nhiều hàm ý: Ngày ngày đi chơi chỗ này, chỗ khác/Không nhớ việc nhà để cây đỗ tương ra hoa mà không vun được.
< Có nhiều làn điệu Sli của các nhánh dân tộc Nùng.
Trưởng thôn Hoàng Văn Pảo cho hay hiện nay do sống chung với các dân tộc anh em, người Nùng ở thôn Cao Tuyên tiếp nhận thêm những văn hóa của các dân tộc khác nên các nét văn hóa truyền thống của dân tộc Nùng ở Cao Tuyên đã có phần mai một. Từ thực tế trên, vài năm gần đây chúng tôi khuyến khích thế hệ trẻ học các làn điệu Sli và mong muốn chúng không quên văn hóa gốc của dân tộc mình.
Ông Nguyễn Xuân Sửu, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Sơn Dương cho biết trong những năm qua, để gìn giữ và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của các dân tộc, huyện Sơn Dương đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và đã thành lập các Câu lạc bộ nghệ thuật trên địa bàn như Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Ninh Lai; Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Sơn Nam, Câu lạc bộ hát Then ở xã Tân Trào...
Để gìn giữ điệu Sli của dân tộc Nùng Giang ở thôn Cao Tuyên, ngoài việc khuyến khích những người biết hát truyền dạy cho thế hệ trẻ, chúng tôi còn đẩy mạnh tuyên truyền, bồi dưỡng niềm say mê, yêu thích, tự hào cho những thế hệ sau đối với những làn điệu dân ca, dân vũ nói chung và điệu Sli Giang của dân tộc Nùng nói riêng. Qua đó góp phần bảo tồn bền vững những nét văn hóa truyền thống. Đây cũng chính là điểm nhấn, thu hút khách du lịch về với quê hương cách mạng.
Du lịch, GO! - Theo TTXVN, internet
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012
Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012
Nét duyên người Lự
Người Lự (còn gọi là Lào Lự, người Lữ, người Nhuồn, người Duồn) là một dân tộc ít người trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Việt Nam. Mấy năm gần đây một số bản làng của người Lự ở tỉnh Lai Châu đã trở thành điểm du lịch văn hóa sinh thái hấp dẫn du khách quốc tế.
Theo số lượng mới thống kê gần đây, cả nước chỉ có khoảng 5.500 người Lự và họ sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng cao thuộc các huyện Phong Thổ, Tân Uyên (Lai Châu).
Người dân tộc Lự biết làm ruộng nước từ lâu đời và còn làm thêm nương rẫy để trồng ngô, khoai, sắn. Nghề trồng bông dệt vải phát triển ở hầu hết gia đình người Lự.
< Nụ cười của phụ nữ Lự lộ những hàm răng độc đáo. Vậy nhưng trong bản giờ chỉ những người trên 35 tuổi mới nhuộm răng đen.
Phụ nữ Lự có bàn tay thêu thùa khéo léo, may, dệt trang phục cho cả gia đình; nhất là váy, áo, khăn của thiếu nữ về nhà chồng trong ngày hôn lễ được thêu hoa văn thổ cẩm trang trí trên nền vải nhuộm chàm rất đẹp.
< Bình yên bản Nà Tăm
Họ mặc áo chàm, xẻ ngực; váy may bằng vải chàm đen, có thêu hoa văn thổ cẩm thành hai phần trang trí do vậy thoáng nhìn cảm giác như chiếc váy có hai tầng vải ghép lại.
< Nhà sàn đặc trưng của người Lự.
Thiếu nữ Lự đeo vòng cổ trang sức làm bằng bạc chạm khắc rất tinh xảo và khăn đội đầu được cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường viền thêu hoa văn thổ cẩm đẹp mắt.
< Lễ cơm mới của người Lự.
Người dân tộc Lự sống có trước có sau, đặc biệt vợ chồng rất thủy chung với nhau. Nếu vì lý do nào đó mà vợ chồng phải ly dị thì họ sẽ bị dòng họ và dân làng phạt rất nặng.
< Phụ nữ Lự giặt giũ bên bờ suối. Một vài nơi ở vùng sâu hơn: các cô gái Lự vẫn duy trì phong tục ngực trần tắm suối.
Người Lự rất thích hát dân ca của dân tộc mình, say sưa chơi các loại nhạc cụ truyền thống như sáo, nhị, trống trong các ngày lễ, ngày hội của bản làng. Bên cạnh đó, nhiều trò chơi dân gian được thanh niên ưa thích như ném én, kéo co.
< Qua suối.
Nét độc đáo nhất của phụ nữ Lự là phong tục nhuộm răng đen có điểm xuyết một vài chiếc răng bằng vàng giả trông khá lạ mắt. Phong tục nhuộm răng đen đang bị mai một vì lớp trẻ của người Lào Lự giờ không thích nhuộm răng đen. Bây giờ tìm trong bản những người nhuộm răng đen chỉ là phụ nữ có tuổi đời từ 35 trở lên.
Theo truyền thống, người Lự sinh sống ở nhà sàn, nhà có hai mái, mái phía sau ngắn còn mái phía trước kéo dài xuống che cả hàng hiên và cầu thang lên xuống. Cửa ra vào của nhà ở chính mở theo hướng tây bắc. Trong nhà có hai bếp lửa, một bếp để nấu ăn cho gia đình hằng ngày và một bếp để đun nước tiếp khách khi tới thăm nhà.
Nét đặc biệt của người Lự là rất quý khách tới thăm nhà và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách chụp ảnh, tìm hiểu phong tục tập quán nhưng không đòi hỏi thù lao như những nơi khác.
Du lịch, GO! - Theo Ngọc Bằng (TTO), internet
Theo số lượng mới thống kê gần đây, cả nước chỉ có khoảng 5.500 người Lự và họ sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng cao thuộc các huyện Phong Thổ, Tân Uyên (Lai Châu).
Người dân tộc Lự biết làm ruộng nước từ lâu đời và còn làm thêm nương rẫy để trồng ngô, khoai, sắn. Nghề trồng bông dệt vải phát triển ở hầu hết gia đình người Lự.
< Nụ cười của phụ nữ Lự lộ những hàm răng độc đáo. Vậy nhưng trong bản giờ chỉ những người trên 35 tuổi mới nhuộm răng đen.
Phụ nữ Lự có bàn tay thêu thùa khéo léo, may, dệt trang phục cho cả gia đình; nhất là váy, áo, khăn của thiếu nữ về nhà chồng trong ngày hôn lễ được thêu hoa văn thổ cẩm trang trí trên nền vải nhuộm chàm rất đẹp.
< Bình yên bản Nà Tăm
Họ mặc áo chàm, xẻ ngực; váy may bằng vải chàm đen, có thêu hoa văn thổ cẩm thành hai phần trang trí do vậy thoáng nhìn cảm giác như chiếc váy có hai tầng vải ghép lại.
< Nhà sàn đặc trưng của người Lự.
Thiếu nữ Lự đeo vòng cổ trang sức làm bằng bạc chạm khắc rất tinh xảo và khăn đội đầu được cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường viền thêu hoa văn thổ cẩm đẹp mắt.
< Lễ cơm mới của người Lự.
Người dân tộc Lự sống có trước có sau, đặc biệt vợ chồng rất thủy chung với nhau. Nếu vì lý do nào đó mà vợ chồng phải ly dị thì họ sẽ bị dòng họ và dân làng phạt rất nặng.
< Phụ nữ Lự giặt giũ bên bờ suối. Một vài nơi ở vùng sâu hơn: các cô gái Lự vẫn duy trì phong tục ngực trần tắm suối.
Người Lự rất thích hát dân ca của dân tộc mình, say sưa chơi các loại nhạc cụ truyền thống như sáo, nhị, trống trong các ngày lễ, ngày hội của bản làng. Bên cạnh đó, nhiều trò chơi dân gian được thanh niên ưa thích như ném én, kéo co.
< Qua suối.
Nét độc đáo nhất của phụ nữ Lự là phong tục nhuộm răng đen có điểm xuyết một vài chiếc răng bằng vàng giả trông khá lạ mắt. Phong tục nhuộm răng đen đang bị mai một vì lớp trẻ của người Lào Lự giờ không thích nhuộm răng đen. Bây giờ tìm trong bản những người nhuộm răng đen chỉ là phụ nữ có tuổi đời từ 35 trở lên.
Theo truyền thống, người Lự sinh sống ở nhà sàn, nhà có hai mái, mái phía sau ngắn còn mái phía trước kéo dài xuống che cả hàng hiên và cầu thang lên xuống. Cửa ra vào của nhà ở chính mở theo hướng tây bắc. Trong nhà có hai bếp lửa, một bếp để nấu ăn cho gia đình hằng ngày và một bếp để đun nước tiếp khách khi tới thăm nhà.
Nét đặc biệt của người Lự là rất quý khách tới thăm nhà và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách chụp ảnh, tìm hiểu phong tục tập quán nhưng không đòi hỏi thù lao như những nơi khác.
Du lịch, GO! - Theo Ngọc Bằng (TTO), internet
Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012
Cải cay Đồng Văn
Một lần đi Đồng Văn, anh bạn người Tày hỏi tôi đã ăn món “cải cay” bao giờ chưa? Dù đã có nhiều dịp dừng chân nơi địa đầu Tổ quốc, thưởng thức nhiều món ăn dân dã truyền thống miền núi như xúc xích gác bếp, trâu khô gác bếp, cải mèo, canh đậu... nhưng tôi chưa bao giờ biết món này.
< Hoa cải vàng rực trên cao nguyên Đồng Văn.
Người Mông gắn bó với vùng cao nguyên Đồng Văn từ bao giờ không ai còn nhớ. Và món ăn truyền thống về cây cải thì thật vô cùng phong phú không thể kể hết trong một bài nhỏ. Nào là cải muối chua phơi khô để nấu với Tẩu Chúa, và làm món Khau Nhục, nào là cải cay muối xổi v.v.
Mùa đông, những cơn giá rét từ trên núi ùa xuống thung lũng, len lỏi qua những ruộng đỗ tương vàng lá, những rặng samu nằm rải rác, đậu vào mái hiên nhà. Mùa đông, cao nguyên đá Đồng Văn trở nên xám xịt, u buồn và lạnh giá. Ấy cũng là mùa cây cải nở hoa.
Bà con ở các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc đã chắt chiu từng nhúm đất giữa các hốc đá để gieo cải. Những năm gần đây, cây cải dầu được thử nghiệm thành công đã mang đến cho miền đất cao nguyên tấm áo mới căng tràn sức sống. Màu xanh của lá, vàng mơ của hoa, những cánh đồng cải miên man trong thung lũng đã làm biết bao lãng khách say mê. Đi, tìm đến, một lần và không thể không trở lại lần thứ hai...
Sau vụ thu hoạch ngô xong, đồng bào làm đất quãi hạt cải trên nương. Với khí hậu núi đá vừa lạnh vừa mát trên độ cao trên cây số so với mặt biển, rất phù hợp cho cây cải phát triển mà không cần phải tưới tắm và bón bất cứ thứ gì. Trời càng giá rét, cải càng xanh và chuyển màu tim tím như sự thuỷ chung với cao nguyên. Nhất là những năm tuyết phủ trắng nương thì cây cải càng phát triển mạnh, lá to, mền và rất ngọt.
Đến tháng giêng, tháng 2, rau cải trổ ngồng, đơm hoa, màu vàng hoa cải điểm tô cho cao nguyên đá thêm lộng lẫy. Ngồng cải được chế biến thành nhiều món ăn đặc trưng và thật sự cuốn hút kỳ lạ. Khi đem bóc vỏ, cho vào nồi luộc chín tới, chấm với đậu xị ăn với mèn mén làm ấm lên để chống chọi với mùa đông khắc nghiệt.
Bữa ăn tối hôm ấy, một đĩa rau cải xào được mang ra. Trông cũng bình thường như nhiều đĩa rau cải khác, thậm chí màu sắc có phần kém hơn vì đĩa cải không xanh mướt như cải mèo mà lại ngả sang màu cỏ úa. Tôi đưa một gắp cải vào miệng. Một luồng hơi nóng, cay xè lan tỏa rất nhanh, xộc vào khí quản và như tan loãng trong cơ thể. Như vừa ăn món gì đó chấm mù tạt hoặc uống một ly nước bạc hà, tôi thấy người nhẹ bẫng đi trong phút chốc, rồi vị ngọt của cải ngấm vào đầu lưỡi, ở lại rất sâu.
Anh bạn đồng hành chia sẻ sau khi dự án trồng cây cải dầu được thực nghiệm và chứng minh hoàn toàn phù hợp với điều kiện địa hình khắc nghiệt nơi đây như băng tuyết, sương muối, chịu hạn, rét..., cây cải dầu đã trở thành loại cây trồng quan trọng cho năng suất cao với bà con các huyện vùng cao nơi địa đầu Tổ quốc. Hạt cải sau khi thu hoạch sẽ được thu mua để chế biến dầu cải. Phần thân được bà con dùng làm món ăn.
Thân cải sau khi tước bỏ lớp vỏ già cứng bên ngoài, cắt ngắn 5-7cm sẽ được cho vào muối. Bí quyết muối cải ngon thật ra cực kỳ đơn giản: không gia vị. Sau khi chần cải qua nước sôi nóng, người ta sẽ ủ toàn bộ cải vào trong nồi đậy vung kín hoặc buộc kín trong túi nilông để qua đêm, hoặc ủ khoảng 10 giờ. Khi đó, thân cải màu xanh sẽ ngả sang màu cỏ úa, tinh dầu cải tiết ra và món cải cay “xuất hiện”. Thông thường đồng bào hay muối ủ rồi lấy cải đã muối ra chế biến, nêm nếm gia vị thành món dưa cải xào.
Khi chúng tôi đề nghị mang ra một đĩa “dưa cải cay” không chế biến, cô bé bán hàng rất ngạc nhiên. Cải cay muối nguyên chất không nêm nếm gia vị, chấm với mắm ớt, mới đưa vào miệng đã nghe tinh dầu cải lan tỏa khắp cơ thể, xua tan cái giá lạnh vùng cao. Mọi người vừa ăn vừa xuýt xoa vì ngon và cay.
Ngày về ngang qua đèo Mã Pì Lèng, một vạt cải vàng rung rinh trên sườn núi đá xám đen, làm bừng lên không gian hư ảo và bềnh bồng sương khói. Tôi biết mình lại có thêm một món ăn để nhớ về cao nguyên đá...
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thái Anh (TTO), Nguyên Bình (YuMe), internet
< Hoa cải vàng rực trên cao nguyên Đồng Văn.
Người Mông gắn bó với vùng cao nguyên Đồng Văn từ bao giờ không ai còn nhớ. Và món ăn truyền thống về cây cải thì thật vô cùng phong phú không thể kể hết trong một bài nhỏ. Nào là cải muối chua phơi khô để nấu với Tẩu Chúa, và làm món Khau Nhục, nào là cải cay muối xổi v.v.
Mùa đông, những cơn giá rét từ trên núi ùa xuống thung lũng, len lỏi qua những ruộng đỗ tương vàng lá, những rặng samu nằm rải rác, đậu vào mái hiên nhà. Mùa đông, cao nguyên đá Đồng Văn trở nên xám xịt, u buồn và lạnh giá. Ấy cũng là mùa cây cải nở hoa.
Bà con ở các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc đã chắt chiu từng nhúm đất giữa các hốc đá để gieo cải. Những năm gần đây, cây cải dầu được thử nghiệm thành công đã mang đến cho miền đất cao nguyên tấm áo mới căng tràn sức sống. Màu xanh của lá, vàng mơ của hoa, những cánh đồng cải miên man trong thung lũng đã làm biết bao lãng khách say mê. Đi, tìm đến, một lần và không thể không trở lại lần thứ hai...
Sau vụ thu hoạch ngô xong, đồng bào làm đất quãi hạt cải trên nương. Với khí hậu núi đá vừa lạnh vừa mát trên độ cao trên cây số so với mặt biển, rất phù hợp cho cây cải phát triển mà không cần phải tưới tắm và bón bất cứ thứ gì. Trời càng giá rét, cải càng xanh và chuyển màu tim tím như sự thuỷ chung với cao nguyên. Nhất là những năm tuyết phủ trắng nương thì cây cải càng phát triển mạnh, lá to, mền và rất ngọt.Đến tháng giêng, tháng 2, rau cải trổ ngồng, đơm hoa, màu vàng hoa cải điểm tô cho cao nguyên đá thêm lộng lẫy. Ngồng cải được chế biến thành nhiều món ăn đặc trưng và thật sự cuốn hút kỳ lạ. Khi đem bóc vỏ, cho vào nồi luộc chín tới, chấm với đậu xị ăn với mèn mén làm ấm lên để chống chọi với mùa đông khắc nghiệt.
Bữa ăn tối hôm ấy, một đĩa rau cải xào được mang ra. Trông cũng bình thường như nhiều đĩa rau cải khác, thậm chí màu sắc có phần kém hơn vì đĩa cải không xanh mướt như cải mèo mà lại ngả sang màu cỏ úa. Tôi đưa một gắp cải vào miệng. Một luồng hơi nóng, cay xè lan tỏa rất nhanh, xộc vào khí quản và như tan loãng trong cơ thể. Như vừa ăn món gì đó chấm mù tạt hoặc uống một ly nước bạc hà, tôi thấy người nhẹ bẫng đi trong phút chốc, rồi vị ngọt của cải ngấm vào đầu lưỡi, ở lại rất sâu.
Anh bạn đồng hành chia sẻ sau khi dự án trồng cây cải dầu được thực nghiệm và chứng minh hoàn toàn phù hợp với điều kiện địa hình khắc nghiệt nơi đây như băng tuyết, sương muối, chịu hạn, rét..., cây cải dầu đã trở thành loại cây trồng quan trọng cho năng suất cao với bà con các huyện vùng cao nơi địa đầu Tổ quốc. Hạt cải sau khi thu hoạch sẽ được thu mua để chế biến dầu cải. Phần thân được bà con dùng làm món ăn.
Thân cải sau khi tước bỏ lớp vỏ già cứng bên ngoài, cắt ngắn 5-7cm sẽ được cho vào muối. Bí quyết muối cải ngon thật ra cực kỳ đơn giản: không gia vị. Sau khi chần cải qua nước sôi nóng, người ta sẽ ủ toàn bộ cải vào trong nồi đậy vung kín hoặc buộc kín trong túi nilông để qua đêm, hoặc ủ khoảng 10 giờ. Khi đó, thân cải màu xanh sẽ ngả sang màu cỏ úa, tinh dầu cải tiết ra và món cải cay “xuất hiện”. Thông thường đồng bào hay muối ủ rồi lấy cải đã muối ra chế biến, nêm nếm gia vị thành món dưa cải xào.Khi chúng tôi đề nghị mang ra một đĩa “dưa cải cay” không chế biến, cô bé bán hàng rất ngạc nhiên. Cải cay muối nguyên chất không nêm nếm gia vị, chấm với mắm ớt, mới đưa vào miệng đã nghe tinh dầu cải lan tỏa khắp cơ thể, xua tan cái giá lạnh vùng cao. Mọi người vừa ăn vừa xuýt xoa vì ngon và cay.
Ngày về ngang qua đèo Mã Pì Lèng, một vạt cải vàng rung rinh trên sườn núi đá xám đen, làm bừng lên không gian hư ảo và bềnh bồng sương khói. Tôi biết mình lại có thêm một món ăn để nhớ về cao nguyên đá...
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thái Anh (TTO), Nguyên Bình (YuMe), internet
Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012
Chợ nón Gò Găng
Dù tạnh hay mưa, mùa lạnh hay mùa nóng, chợ nón Gò Găng - Bình Định cũng chỉ nhóm họp từ 3h sáng cho đến khi Mặt trời lên. Mọi hoạt động mua, bán nón và các nguyên liệu làm nón đều diễn ra dưới ánh đèn dầu.
Nếu muốn thấy hình ảnh tấp nập bán mua ở chợ nón Gò Găng, bạn phải khởi hành từ thành phố Quy Nhơn (Bình Định) lúc 1-2h sáng, ngược ra hướng Bắc theo QL 1A chừng 30km. Chợ kề một ngã ba cạnh quốc lộ, thuộc phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn. Đầu chợ là hoạt động mua, bán nón lá diễn ra dưới những ánh đèn dầu leo lét.
Người bán, người mua đều ngồi bệt trên vệ đường, dùng đèn dầu để thẩm định nón, ngã giá, tính tiền. Bên trong chợ có hàng chục gian hàng bán tre, nứa, lá nón, báo cũ… là những nguyên liệu để làm ra chiếc nón.
Nếu trời không mưa, việc mua bán sẽ diễn ra ngay dưới lòng đường. Khi trời mưa, các gian hàng sẽ dồn vào mái hiên, vách tường của những ngôi nhà nằm kề bên chợ.
Chợ nón Gò Găng được hình thành từ thời Tây Sơn và đã đi vào ca dao, dân ca như: “Gò Găng có nón chung tình/ Ở đây có thiếp một dạ với mình mình ơi” hay “Em về mua vải chợ Gồm / Gò Găng mua nón phiên Chàm anh vô”… Trải qua hàng trăm năm, chợ nón Gò Găng vẫn giữ được những nét đơn sơ, mộc mạc rất hiếm thấy ở các phiên chợ khác.
Chợ nhưng lại không ồn ào, chen chúc. Người mua, người bán đều quen biết nhau, cách xưng hô đầy thân mật kiểu người trong gia đình như: dì Hai, cô Ba, mợ Năm… Cả phiên chợ chỉ có khoảng vài chục đến gần 100 phụ nữ đã luống tuổi tham gia mua bán. Đến tầm 5h sáng là chợ tan, những phụ nữ đi chợ trở về nhà để kịp ra đồng làm ruộng, trồng khoai…
Tảng sáng chợ Gò Găng tan, tiếp tục hành trình, bạn hãy đến thăm những làng nghề làm nón truyền thống gần đó như Bình Đức, Tân Đức, Tân Nghi, Vĩnh Phú, Châu Thành, Phú Thành, Kiều An… (phường Nhơn Thành) hay nghề làm nón ngựa Phú Gia (xã Cát Tường, huyện Phù Cát)…
Gần trưa, từ phường Nhơn Thành, bạn hãy quay ngược về phía Quy Nhơn chừng 5km, tìm đến những quán ăn dọc bờ sông Kôn thưởng thức các món đặc sản đồng quê như: thịt gà, cá diếc nấu rau răm, khổ qua nấu cá thác lác, cá mương nướng… Quán nằm sát mép sông rộng rãi, thoáng mát, mồi ngon, rượu Bàu Đá nồng nàn, bạn tha hồ nhâm nhi, đàn hát.
Thăm chợ nón Gò Găng và các làng làm nón ở Bình Định, bạn sẽ khám phá rất nhiều điều thú vị về cách sống, cách giữ nghề truyền thống ở nông thôn. Đặc biệt, nếu bạn là người say mê chụp ảnh thì chợ nón Gò Găng là một địa điểm rất thú vị.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Thế (ANTĐ), ảnh internet
Nếu muốn thấy hình ảnh tấp nập bán mua ở chợ nón Gò Găng, bạn phải khởi hành từ thành phố Quy Nhơn (Bình Định) lúc 1-2h sáng, ngược ra hướng Bắc theo QL 1A chừng 30km. Chợ kề một ngã ba cạnh quốc lộ, thuộc phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn. Đầu chợ là hoạt động mua, bán nón lá diễn ra dưới những ánh đèn dầu leo lét.
Người bán, người mua đều ngồi bệt trên vệ đường, dùng đèn dầu để thẩm định nón, ngã giá, tính tiền. Bên trong chợ có hàng chục gian hàng bán tre, nứa, lá nón, báo cũ… là những nguyên liệu để làm ra chiếc nón.
Nếu trời không mưa, việc mua bán sẽ diễn ra ngay dưới lòng đường. Khi trời mưa, các gian hàng sẽ dồn vào mái hiên, vách tường của những ngôi nhà nằm kề bên chợ.
Chợ nón Gò Găng được hình thành từ thời Tây Sơn và đã đi vào ca dao, dân ca như: “Gò Găng có nón chung tình/ Ở đây có thiếp một dạ với mình mình ơi” hay “Em về mua vải chợ Gồm / Gò Găng mua nón phiên Chàm anh vô”… Trải qua hàng trăm năm, chợ nón Gò Găng vẫn giữ được những nét đơn sơ, mộc mạc rất hiếm thấy ở các phiên chợ khác.
Chợ nhưng lại không ồn ào, chen chúc. Người mua, người bán đều quen biết nhau, cách xưng hô đầy thân mật kiểu người trong gia đình như: dì Hai, cô Ba, mợ Năm… Cả phiên chợ chỉ có khoảng vài chục đến gần 100 phụ nữ đã luống tuổi tham gia mua bán. Đến tầm 5h sáng là chợ tan, những phụ nữ đi chợ trở về nhà để kịp ra đồng làm ruộng, trồng khoai…
Tảng sáng chợ Gò Găng tan, tiếp tục hành trình, bạn hãy đến thăm những làng nghề làm nón truyền thống gần đó như Bình Đức, Tân Đức, Tân Nghi, Vĩnh Phú, Châu Thành, Phú Thành, Kiều An… (phường Nhơn Thành) hay nghề làm nón ngựa Phú Gia (xã Cát Tường, huyện Phù Cát)…
Gần trưa, từ phường Nhơn Thành, bạn hãy quay ngược về phía Quy Nhơn chừng 5km, tìm đến những quán ăn dọc bờ sông Kôn thưởng thức các món đặc sản đồng quê như: thịt gà, cá diếc nấu rau răm, khổ qua nấu cá thác lác, cá mương nướng… Quán nằm sát mép sông rộng rãi, thoáng mát, mồi ngon, rượu Bàu Đá nồng nàn, bạn tha hồ nhâm nhi, đàn hát.
Thăm chợ nón Gò Găng và các làng làm nón ở Bình Định, bạn sẽ khám phá rất nhiều điều thú vị về cách sống, cách giữ nghề truyền thống ở nông thôn. Đặc biệt, nếu bạn là người say mê chụp ảnh thì chợ nón Gò Găng là một địa điểm rất thú vị.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Thế (ANTĐ), ảnh internet
Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012
Lạ lùng tộc người ngủ ngồi, xác chết đóng khố
Những tập tục như ngủ ngồi, đẻ ngồi; người chết ở trần, đóng khố không có áo quan... vẫn đang tồn tại ở tộc người Đan Lai giữa vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát.
< Người dân Đan Lai qua sông Giăng.
1. Vừa nghe chúng tôi hỏi về nguồn gốc của tộc người Đan Lai, thầy giáo La Đình Thám, 67 tuổi, nguyên giáo viên Trường tiểu học Môn Sơn 3 (xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, Nghệ An), kể lại truyền thuyết của dân tộc mình: Từ thời xa xưa lắm rồi, có một chàng trai nghèo họ La, bỏ làng Đan Nhiệm (huyện Nam Đàn) ngược lên miền Hoa Quân (huyện Thanh Chương) tìm vợ rồi ở luôn tại đó, sinh con đẻ cháu ngày một đông đúc.
Nhờ tính hay lam hay làm nên đã có của ăn của để. Sự giàu có của dòng họ này đã đẩy con cháu mình vào một bi kịch. Do ghen ăn, tức ở, bọn chức dịch trong làng đã dùng mưu gian, kế hiểm đẩy dòng họ La vào bước đường cùng. Khi dòng họ La đang sống yên bình, thì bỗng có chiếu vua ban xuống, quan sức về làng. Trong chiếu nhà vua bắt dòng họ La trong vòng 10 ngày phải nộp cho triều đình một chiếc thuyền liền mái chèo và 100 cây nứa vàng nếu không cả họ sẽ bị chém đầu.
Để tránh họa đầu rơi, máu chảy, cả dòng họ La, già trẻ, gái bằng được trai vội vã bủa vào rừng thiêng, nước độc tìm kiễm lễ vật ấy cho vua. Nhưng họ cứ đi, đi mãi, ngày đêm không nghỉ, lục tìm hết cả đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ mà vẫn không thể tìm ra được những sản vật quái gở ấy... Tay không trở về làng khi thời hạn đã gần hết, nhân một đêm tối trời cả dòng họ La bàn nhau bỏ trốn.

< Phụ nữ Đan Lai thường lên núi hái lượm, xuống sông bắt cá.
Họ ngậm ngùi bồng bế, dắt nhau rời làng trốn vào rừng sâu, họ ngược dòng sông Giăng đi mãi, đi mãi đến tận nơi sơn cùng thuỷ tận đến khi tối mịt, cả đoàn người mệt mỏi mới dám tựa vào gốc cây, hang đá nghỉ lưng chờ trời sáng để đi tiếp. Điểm dừng chân cuối cùng của họ là một vùng núi non hiểm trở, cây cối hoang sơ, không có một dấu chân người, đó là vùng lõi của Vườn quốc gia Pù Mát bên dòng sông Giăng đầy thác ghềnh hung dữ.
Ngày đó nơi họ dừng chân chỉ có thú dữ và chim chóc, không có một bóng người lai vãng. Hy vọng sẽ không ai biết họ ở đây để báo cho vua chúa đem quân đến giết hại nữa, dòng họ La quyết định “đóng đô” lại đây.
< Còn đàn ông thường ở nhà cả ngày… bồng bế con.
Cuộc đào tẩu vào giữa đại ngàn Trường Sơn của tộc người Đan Lai đã được đưa vào bài cúng tổ tiên: “Theo dấu chân nai/ đi gieo hạt lúa/ theo dấu chân hổ/ đi trồng hạt ngô/lang thang đầu suối/ bâng khuâng lưng đèo/ sống đời nghèo khổ/ như dòng suối nhỏ/ như gió rừng chiều...”.
2. Theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Trần Vương, thì cuộc chạy trốn bất đắc dĩ và đầy bi thương này đã đẩy tộc người này cách ly với đời sống xã hội đương đại của dân tộc khiến họ rơi vào cảnh bần cùng, khốn khó giữa chốn rừng thiêng, nước độc. Để tồn tại và duy trì nói giống của mình, những con người thậm khổ này bắt buộc phải quay trở lại kiếp sống hái lượm của thời hồng hoang và phải chấp nhận hôn nhân cận huyết. Hằng ngày họ phải vạt cây gỗ để làm dụng cụ săn bắt, hái lượm, lấy vỏ cây rừng làm khố, đào củ mài, tìm củ nâu trong rừng để sống qua ngày.
< Hồn nhiên học sinh người Đan Lai nơi chốn “sơn cùng thủy tận”.
Cả chiều dài lịch sử đằng đẵng lánh nạn giữa nơi thâm sơn cùng cốc, dòng họ La dần dần giao tiếp được với một số dân tộc thiểu số bản địa như người Thái, người Thổ, họ chấp nhận lai tạp thêm vào tiếng mẹ đẻ của mình các từ ngữ của các dân tộc khác để che giấu thân phận và nguồn gốc của mình.
Họ tự đặt tên tên cho dòng họ của mình là Đan Lai. Đan là ý muốn chỉ tộc người của mình xuất phát ở làng Đan Nhiệm, còn Lai ý nói là mọi thứ kể cả con người, tiếng nói, phong tục đều đã bị “lai tạp”. Đây là lý do giải thích vì sao tiếng nói của tộc người này là một thứ thổ âm lai tạp giữa Mường - Việt ngữ cổ. Bị cách biệt với thế giới bên ngoài hàng trăm năm nên dần dần họ quên cả tiếng nói mẹ đẻ, quên cả chữ viết, phương thức canh tác nông nghiệp và cả nét văn hoá của dân tộc mình... Đây là những nguyên nhân hình thành những phong tục, lối sống rất khác lạ với đời sống hiện đại.
< La Thị Duyên - cô học trò người Đan Lai đầu tiên đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh.
Thầy giáo La Đình Thám giải thích thêm: Cả tộc người Đan Lai sinh sống chủ yếu bằng hái lượm giống như thời hồng hoang nguyên sơ của loài người nên họ đã duy trì nhiều tập tục xa lạ với các dân tộc khác. Khi chết người Đan Lai không được mặc quần áo, chỉ đóng khố, không dùng hòm vỏ để chôn cất, ngủ ngồi, con cháu trong cùng dòng họ lấy nhau, sinh con đẻ cái là chuyện quá bình thường...
Ông Thám kể câu chuyện về người bác ruột tên là La Văn Khằm. Năm 1960, khi đang làm cán bộ HĐND huyện Con Cuông, ngày nghỉ ông Khằm về thăm gia đình và bị ngã bệnh qua đời đột ngột. Dịp đó, lãnh đạo huyện đưa hòm gỗ về bản để làm thủ tục khâm liệm cho người quá cố, nhưng từ người nhà đến già làng, dân bản đều nhất quyết cự tuyệt. Họ quan niệm rằng chôn cất ông Khằm bằng hòm gỗ là sai lệ làng và khi xuống cõi âm người chết sẽ không được tổ tiên chấp nhận.
< Đêm xuống du khách vừa quây quần bên bếp lửa nghe người Đan Lai kể về truyền thuyết.
Trước sức ép của chính quyền, ông Khằm đã được nhập quan, nhưng khi chôn cất xong, cán bộ huyện vừa ra khỏi bản thì dân bản đào huyệt đưa lên xác ông Khằm lên để làm thủ tục chôn trần theo phong tục của dân bản...
Thượng tá, Nguyễn Văn Vượng, Đồn trưởng Đồn biên phòng Môn Sơn (Đồn 555), cho biết: Hiện số người Đan Lai tại huyện Con Cuông có khoảng 708 hộ với 3.277 nhân khẩu. Trong đó riêng xã Môn Sơn có 217 hộ với 1.075 nhân khẩu sống tập trung chủ yếu ở 3 bản: Cò Phạt, Khe Cồn và bản Búng thuộc của xã Môn Sơn (217 hộ), số còn lại sống ở 2 xã Lục Dạ (55 hộ) và Yên Khê (36 hộ). Từ năm 2008 đến nay, tộc người Đan Lai được Nhà nước quan tâm giúp đỡ rất nhiều.
< Trẻ con Đan Lai làm quen với cuộc sống săn bắt, hái lượm.
Do quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” nên người Đan Lai sống phóng khoáng như núi rừng, cỏ cây, mỗi cặp vợ chồng cưới nhau từ khi mới 13-14 tuổi nên bình quân họ từ 4 đến 6 người con, cá biệt có cặp vợ chồng sinh tới 13 đứa con.
Phụ nữ Đan Lai mới 13-14 tuổi đầu đã lấy chồng. Một mình vào rừng “vượt cạn” đẻ ngồi trong cái chòi dựng tạm giữa rừng. Đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ, dù là nắng hay mưa, dù cho rét căm căm đến ghê người vẫn mẹ đem xuống suối để tắm 3 lần. Đến khi da dẻ bị tím tái, nếu đứa trẻ vẫn còn sống sót thì mới đưa về nhà nuôi.
Những đứa trẻ Đan Lai đứa nào cũng có đôi mắt rất đẹp, xanh trong như dòng nước sông Giăng nhưng hễ gặp người lạ là chúng đều cúi gằm mặt xuống. Dường như sự mặc cảm về thân phận của cả tộc người đã ăn sâu trong tâm hồn của bọn trẻ giữa chốn thâm sơn cùng cốc này.
< Tập tục ngủ ngồi để để cảnh giác với thú dữ vẫn tồn tại với tộc người Đan Lai.
3. Tộc người Đan Lai có tập tục lạ lùng là không bao giờ ngủ nằm. Tục ngủ ngồi ăn sâu vào máu thịt từ người già đến trẻ con trở thành thói quen của tất cả mọi người.
Già làng La Văn Quyết giải thích, tục ngủ ngồi xuất phát từ việc phải thường trực ý thức trốn chạy thật nhanh nếu bị quan quân chế độ phong kiến vây bắt. Đó cũng là cách để giúp họ hàng ngày chống chọi với muông thú hoang dã đang rình rập. "Nhờ tục ngủ ngồi mà người Đan Lai tồn tại được đến ngày hôm nay đấy", già Quyết nói.
Từ hơn 300 trăm năm nay tộc người Đan Lai luôn sống trong cảnh không có nhà, chỉ lấy cành cây dựng tạm thành cái lều ở tạm cho đén khi hỏng thì mới làm lại. Mỗi khi màn đêm buông xuống, trong túp lều tạm bợ ấy, cả gia đình họ chỉ dám ngồi quây quần bên đống lửa để canh chừng thú dữ tấn công.
< Tám đứa trẻ của 1 gia đình người Đan Lai.
Lâu dần thành thói quen, ngồi thâu đêm như vậy ai cũng mệt nhoài, chỉ dám tranh thủ chợp mắt để khi có thú đến còn có đà chạy vào rừng sâu lẩn trốn. Cho đến tận bây giờ, ngủ ngồi đã thành một tập tục của tộc người Đan Lai. Trẻ con lớn lên chỉ cần biết ngồi vững là đã phải học cách ngủ ngồi!
Người Đan Lai không chỉ ngủ ngồi quanh bếp lửa, tộc người này còn có thể ngủ trên cây mỗi khi đi săn bắt, hái lượm không kịp về bản. Theo già Quyết, cứ mỗi chuyến đi săn ít nhất cũng tới vài ngày. Những lúc như vậy những người đi săn thường phải trèo lên cây cao để ngủ nhằm tránh thú dữ. Chỉ cần vài ba đoạn cây buộc vào nhau làm điểm tựa là họ ngủ ngồi suốt đêm trên cây.
“Tục ngủ ngồi đã được truyền qua bao đời nay nên người dân trong bản không có thói quen nằm giường. Cả bản Cò Phạt có hơn 70 nóc nhà, nhưng chẳng nhà nào mua sắm giường chiếu. Mới đây, do được tuyên truyền vận động, cũng có nhà trong bản sắm giường, nhưng khi ngả lưng nằm lại thấy rất khó chịu, đau lưng nên đã quay sang ngủ ngồi”, già Quyết nói.
Du lịch, GO! - Theo NNVN, internet
< Người dân Đan Lai qua sông Giăng.
1. Vừa nghe chúng tôi hỏi về nguồn gốc của tộc người Đan Lai, thầy giáo La Đình Thám, 67 tuổi, nguyên giáo viên Trường tiểu học Môn Sơn 3 (xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, Nghệ An), kể lại truyền thuyết của dân tộc mình: Từ thời xa xưa lắm rồi, có một chàng trai nghèo họ La, bỏ làng Đan Nhiệm (huyện Nam Đàn) ngược lên miền Hoa Quân (huyện Thanh Chương) tìm vợ rồi ở luôn tại đó, sinh con đẻ cháu ngày một đông đúc.
Nhờ tính hay lam hay làm nên đã có của ăn của để. Sự giàu có của dòng họ này đã đẩy con cháu mình vào một bi kịch. Do ghen ăn, tức ở, bọn chức dịch trong làng đã dùng mưu gian, kế hiểm đẩy dòng họ La vào bước đường cùng. Khi dòng họ La đang sống yên bình, thì bỗng có chiếu vua ban xuống, quan sức về làng. Trong chiếu nhà vua bắt dòng họ La trong vòng 10 ngày phải nộp cho triều đình một chiếc thuyền liền mái chèo và 100 cây nứa vàng nếu không cả họ sẽ bị chém đầu.Để tránh họa đầu rơi, máu chảy, cả dòng họ La, già trẻ, gái bằng được trai vội vã bủa vào rừng thiêng, nước độc tìm kiễm lễ vật ấy cho vua. Nhưng họ cứ đi, đi mãi, ngày đêm không nghỉ, lục tìm hết cả đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ mà vẫn không thể tìm ra được những sản vật quái gở ấy... Tay không trở về làng khi thời hạn đã gần hết, nhân một đêm tối trời cả dòng họ La bàn nhau bỏ trốn.

< Phụ nữ Đan Lai thường lên núi hái lượm, xuống sông bắt cá.
Họ ngậm ngùi bồng bế, dắt nhau rời làng trốn vào rừng sâu, họ ngược dòng sông Giăng đi mãi, đi mãi đến tận nơi sơn cùng thuỷ tận đến khi tối mịt, cả đoàn người mệt mỏi mới dám tựa vào gốc cây, hang đá nghỉ lưng chờ trời sáng để đi tiếp. Điểm dừng chân cuối cùng của họ là một vùng núi non hiểm trở, cây cối hoang sơ, không có một dấu chân người, đó là vùng lõi của Vườn quốc gia Pù Mát bên dòng sông Giăng đầy thác ghềnh hung dữ.
Ngày đó nơi họ dừng chân chỉ có thú dữ và chim chóc, không có một bóng người lai vãng. Hy vọng sẽ không ai biết họ ở đây để báo cho vua chúa đem quân đến giết hại nữa, dòng họ La quyết định “đóng đô” lại đây.
< Còn đàn ông thường ở nhà cả ngày… bồng bế con.
Cuộc đào tẩu vào giữa đại ngàn Trường Sơn của tộc người Đan Lai đã được đưa vào bài cúng tổ tiên: “Theo dấu chân nai/ đi gieo hạt lúa/ theo dấu chân hổ/ đi trồng hạt ngô/lang thang đầu suối/ bâng khuâng lưng đèo/ sống đời nghèo khổ/ như dòng suối nhỏ/ như gió rừng chiều...”.
2. Theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Trần Vương, thì cuộc chạy trốn bất đắc dĩ và đầy bi thương này đã đẩy tộc người này cách ly với đời sống xã hội đương đại của dân tộc khiến họ rơi vào cảnh bần cùng, khốn khó giữa chốn rừng thiêng, nước độc. Để tồn tại và duy trì nói giống của mình, những con người thậm khổ này bắt buộc phải quay trở lại kiếp sống hái lượm của thời hồng hoang và phải chấp nhận hôn nhân cận huyết. Hằng ngày họ phải vạt cây gỗ để làm dụng cụ săn bắt, hái lượm, lấy vỏ cây rừng làm khố, đào củ mài, tìm củ nâu trong rừng để sống qua ngày.
< Hồn nhiên học sinh người Đan Lai nơi chốn “sơn cùng thủy tận”.
Cả chiều dài lịch sử đằng đẵng lánh nạn giữa nơi thâm sơn cùng cốc, dòng họ La dần dần giao tiếp được với một số dân tộc thiểu số bản địa như người Thái, người Thổ, họ chấp nhận lai tạp thêm vào tiếng mẹ đẻ của mình các từ ngữ của các dân tộc khác để che giấu thân phận và nguồn gốc của mình.
Họ tự đặt tên tên cho dòng họ của mình là Đan Lai. Đan là ý muốn chỉ tộc người của mình xuất phát ở làng Đan Nhiệm, còn Lai ý nói là mọi thứ kể cả con người, tiếng nói, phong tục đều đã bị “lai tạp”. Đây là lý do giải thích vì sao tiếng nói của tộc người này là một thứ thổ âm lai tạp giữa Mường - Việt ngữ cổ. Bị cách biệt với thế giới bên ngoài hàng trăm năm nên dần dần họ quên cả tiếng nói mẹ đẻ, quên cả chữ viết, phương thức canh tác nông nghiệp và cả nét văn hoá của dân tộc mình... Đây là những nguyên nhân hình thành những phong tục, lối sống rất khác lạ với đời sống hiện đại.
< La Thị Duyên - cô học trò người Đan Lai đầu tiên đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh.
Thầy giáo La Đình Thám giải thích thêm: Cả tộc người Đan Lai sinh sống chủ yếu bằng hái lượm giống như thời hồng hoang nguyên sơ của loài người nên họ đã duy trì nhiều tập tục xa lạ với các dân tộc khác. Khi chết người Đan Lai không được mặc quần áo, chỉ đóng khố, không dùng hòm vỏ để chôn cất, ngủ ngồi, con cháu trong cùng dòng họ lấy nhau, sinh con đẻ cái là chuyện quá bình thường...
Ông Thám kể câu chuyện về người bác ruột tên là La Văn Khằm. Năm 1960, khi đang làm cán bộ HĐND huyện Con Cuông, ngày nghỉ ông Khằm về thăm gia đình và bị ngã bệnh qua đời đột ngột. Dịp đó, lãnh đạo huyện đưa hòm gỗ về bản để làm thủ tục khâm liệm cho người quá cố, nhưng từ người nhà đến già làng, dân bản đều nhất quyết cự tuyệt. Họ quan niệm rằng chôn cất ông Khằm bằng hòm gỗ là sai lệ làng và khi xuống cõi âm người chết sẽ không được tổ tiên chấp nhận.
< Đêm xuống du khách vừa quây quần bên bếp lửa nghe người Đan Lai kể về truyền thuyết.
Trước sức ép của chính quyền, ông Khằm đã được nhập quan, nhưng khi chôn cất xong, cán bộ huyện vừa ra khỏi bản thì dân bản đào huyệt đưa lên xác ông Khằm lên để làm thủ tục chôn trần theo phong tục của dân bản...
Thượng tá, Nguyễn Văn Vượng, Đồn trưởng Đồn biên phòng Môn Sơn (Đồn 555), cho biết: Hiện số người Đan Lai tại huyện Con Cuông có khoảng 708 hộ với 3.277 nhân khẩu. Trong đó riêng xã Môn Sơn có 217 hộ với 1.075 nhân khẩu sống tập trung chủ yếu ở 3 bản: Cò Phạt, Khe Cồn và bản Búng thuộc của xã Môn Sơn (217 hộ), số còn lại sống ở 2 xã Lục Dạ (55 hộ) và Yên Khê (36 hộ). Từ năm 2008 đến nay, tộc người Đan Lai được Nhà nước quan tâm giúp đỡ rất nhiều.
< Trẻ con Đan Lai làm quen với cuộc sống săn bắt, hái lượm.
Do quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” nên người Đan Lai sống phóng khoáng như núi rừng, cỏ cây, mỗi cặp vợ chồng cưới nhau từ khi mới 13-14 tuổi nên bình quân họ từ 4 đến 6 người con, cá biệt có cặp vợ chồng sinh tới 13 đứa con.
Phụ nữ Đan Lai mới 13-14 tuổi đầu đã lấy chồng. Một mình vào rừng “vượt cạn” đẻ ngồi trong cái chòi dựng tạm giữa rừng. Đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ, dù là nắng hay mưa, dù cho rét căm căm đến ghê người vẫn mẹ đem xuống suối để tắm 3 lần. Đến khi da dẻ bị tím tái, nếu đứa trẻ vẫn còn sống sót thì mới đưa về nhà nuôi.
Những đứa trẻ Đan Lai đứa nào cũng có đôi mắt rất đẹp, xanh trong như dòng nước sông Giăng nhưng hễ gặp người lạ là chúng đều cúi gằm mặt xuống. Dường như sự mặc cảm về thân phận của cả tộc người đã ăn sâu trong tâm hồn của bọn trẻ giữa chốn thâm sơn cùng cốc này.
< Tập tục ngủ ngồi để để cảnh giác với thú dữ vẫn tồn tại với tộc người Đan Lai.
3. Tộc người Đan Lai có tập tục lạ lùng là không bao giờ ngủ nằm. Tục ngủ ngồi ăn sâu vào máu thịt từ người già đến trẻ con trở thành thói quen của tất cả mọi người.
Già làng La Văn Quyết giải thích, tục ngủ ngồi xuất phát từ việc phải thường trực ý thức trốn chạy thật nhanh nếu bị quan quân chế độ phong kiến vây bắt. Đó cũng là cách để giúp họ hàng ngày chống chọi với muông thú hoang dã đang rình rập. "Nhờ tục ngủ ngồi mà người Đan Lai tồn tại được đến ngày hôm nay đấy", già Quyết nói.
Từ hơn 300 trăm năm nay tộc người Đan Lai luôn sống trong cảnh không có nhà, chỉ lấy cành cây dựng tạm thành cái lều ở tạm cho đén khi hỏng thì mới làm lại. Mỗi khi màn đêm buông xuống, trong túp lều tạm bợ ấy, cả gia đình họ chỉ dám ngồi quây quần bên đống lửa để canh chừng thú dữ tấn công.
< Tám đứa trẻ của 1 gia đình người Đan Lai.
Lâu dần thành thói quen, ngồi thâu đêm như vậy ai cũng mệt nhoài, chỉ dám tranh thủ chợp mắt để khi có thú đến còn có đà chạy vào rừng sâu lẩn trốn. Cho đến tận bây giờ, ngủ ngồi đã thành một tập tục của tộc người Đan Lai. Trẻ con lớn lên chỉ cần biết ngồi vững là đã phải học cách ngủ ngồi!
Người Đan Lai không chỉ ngủ ngồi quanh bếp lửa, tộc người này còn có thể ngủ trên cây mỗi khi đi săn bắt, hái lượm không kịp về bản. Theo già Quyết, cứ mỗi chuyến đi săn ít nhất cũng tới vài ngày. Những lúc như vậy những người đi săn thường phải trèo lên cây cao để ngủ nhằm tránh thú dữ. Chỉ cần vài ba đoạn cây buộc vào nhau làm điểm tựa là họ ngủ ngồi suốt đêm trên cây.
“Tục ngủ ngồi đã được truyền qua bao đời nay nên người dân trong bản không có thói quen nằm giường. Cả bản Cò Phạt có hơn 70 nóc nhà, nhưng chẳng nhà nào mua sắm giường chiếu. Mới đây, do được tuyên truyền vận động, cũng có nhà trong bản sắm giường, nhưng khi ngả lưng nằm lại thấy rất khó chịu, đau lưng nên đã quay sang ngủ ngồi”, già Quyết nói.
Du lịch, GO! - Theo NNVN, internet
Lễ Thôi sưởi lửa của người Thái Tây bắc
Người Thái Tây Bắc có tục các sản phụ đều sưởi lửa trong thời gian ở cữ. Lửa trong quan niệm của người Thái giúp các sản phụ và trẻ sơ sinh thêm mạnh khỏe, tránh được sự quấy nhiễu của ma quỷ, đồng thời lửa còn giúp các sản phụ tránh được một số bệnh sau khi sinh nở.
< Cầu cho nguồn sữa tốt lành.
Khi gia đình có người mới sinh, chủ nhà treo “ta leo” để tránh ma tà, đồng thời là thông điệp cho tất cả mọi người. “Ta leo” gồm một tấm phên đan hình mắt cáo, trên đó gài lá cúc tần – “co nát” và một mẩu củi cháy dở. Những ngày này không cấm người ngoài họ tộc lên nhà, nhưng những người dữ vía thường giữ ý không lên.
< Thông điệp nhà có người mới sinh.
Còn lại khách trước khi lên đều ý tứ nói: “Nha chắp nha pét nớ, e nọi ơi !” – có nghĩa là: Đừng giống như chú, như bác nhé, bé yêu ơi ! Người nhà cháu bé mới sinh lịch lãm trả lời: “Nha chắp nha pét ben đi đò” – nghĩa là: Được giống như chú như bác càng tốt, càng hay!
Nếu sinh con trai sản phụ sưởi lửa bẩy ngày, sinh con gái sưởi lửa chín ngày, ứng với bẩy vía và chín vía. Khi đến ngày ra lửa, người mẹ phải tắm bằng nước lá thơm, gội đầu, thay váy áo mới. Chủ nhà mời bà mo đến cúng. Trong đời sống tâm linh của người Thái Tây Bắc, bà mo “một nhính” có vai trò rất quan trọng, được mời trong các lễ cúng cầu xin con cho các đôi vợ chồng hiếm muộn con – “xên so lụk”, cúng vía trâu – “tám khuôn quái”…
< Trừ tà tà cho nguồn sữa.
Bởi người Thái Tây Bắc quan niệm trên trời có một bà mụ gọi là “Me bẩu” chuyên dùng một khuôn để đúc người, cũng chính vì vậy trên đầu chỗ nằm của sản phụ bao giờ cũng có một chiếc bát cổ gọi là “thuổi bẩu” trong đựng tóc rối tượng trưng cho nhau của người mẹ.
Ông nội hoặc đàn ông trong nhà đan một chiếc giỏ tre nhỏ gọi là “tạy ho” để dánh dấu sự ra đời của đứa trẻ. Tạy ho của con trai làm thêm cái nỏ bé, quạt…, tạy ho của con gái có hai cánh và cái bật bông…. Đến khi qua đờì tạy ho sẽ đem hỏa thiêu cùng thi thể.
< Buộc chỉ giữ vía cho sản phụ.
Mâm cơm cúng bao giờ cũng có gà, trứng, xôi… Đầu tiên bà mo cúng ở gian thờ tổ tiên – “hỏng hóng, bên cạnh mâm cúng bao giờ cũng đặt chiếc váy của bà đỡ, người đã đón cháu bé chào đời. Bà mo thay mặt gia chủ báo cáo với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên, cầu xin cho hai mẹ con mạnh khỏe.
Sau đó mới cúng ở gian hai mẹ con nằm. Lời cúng ngoài kể lại quá trình mang nặng để đau, thì còn chúc cho đứa trẻ: “Thằng cu, cái hĩm đều to cao lớn đều/ Người Thái trong bản bảo nhau/ Sau này bố mẹ, ông bà sẽ được nhờ cậy cháu/ Con cháu trưởng thành lớn khôn…”.
Tiếp đó bà mo cúng cầu cho bầu sữa của người mẹ nhiều sữa, không tắc, bà mo lấy kéo cắt hờ trước đầu vú của sản phụ yểm không cho ma quỷ làm hại, rồi lấy rượu chải xuôi bầu vú cho không tắc tia sữa , lấy trứng xoa vào bầu vú người mẹ và chấm vào miệng đứa trẻ, cầu mong cho đứa trẻ hay ăn chóng lớn.
Trứng trong quan niệm của người Thái tượng trưng cho sự sinh sôi nẩy nở và viên mãn. Sau khi bà mo cúng xong, bà ngoại cắt tóc cho cháu. Sau đó bà mo buộc chỉ vào cổ người mẹ để giữ vía, mọi người buộc chỉ cổ tay cho cháu bé, cầu chúc và ban phước. Ông ngoại cháu bé treo nôi, bà mo còn cúng chiếc nôi cho cháu bé được ngủ ngon, sau đó bà nội đặt cháu bé vào nôi ru cháu ngủ, mọi người cùng ăn uống vui vẻ mừng cho gia chủ.
Trong lễ thôi sưởi lửa này cháu bé sẽ được ông bà ngoại đặt tên. Ngườì Thái rất coi trọng bên ngoại, bởi quan niệm phúc lộc của con cháu là do họ ngoại mà có. Cũng vì vậy, trong lễ thôi sưởi lửa này người cao tưổi nhất bên ngoại được mời ngồi vị trí trang trọng nhất, mọi người đều buộc chỉ cổ tay cho cụ, cầu mong cụ mạnh khỏe, trường thọ, ban phúc cho con cháu.
Mỹ tục này được các thế hệ người Thái duy trì như một nét đẹp văn hóa. Mỗi thành viên thêm vững tin vào cuộc sống, kính yêu các bậc sinh thành, để rồi sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn.
Du lịch, GO! - Theo blog Tranvanhac, internet
< Cầu cho nguồn sữa tốt lành.
Khi gia đình có người mới sinh, chủ nhà treo “ta leo” để tránh ma tà, đồng thời là thông điệp cho tất cả mọi người. “Ta leo” gồm một tấm phên đan hình mắt cáo, trên đó gài lá cúc tần – “co nát” và một mẩu củi cháy dở. Những ngày này không cấm người ngoài họ tộc lên nhà, nhưng những người dữ vía thường giữ ý không lên.
< Thông điệp nhà có người mới sinh.
Còn lại khách trước khi lên đều ý tứ nói: “Nha chắp nha pét nớ, e nọi ơi !” – có nghĩa là: Đừng giống như chú, như bác nhé, bé yêu ơi ! Người nhà cháu bé mới sinh lịch lãm trả lời: “Nha chắp nha pét ben đi đò” – nghĩa là: Được giống như chú như bác càng tốt, càng hay!
Nếu sinh con trai sản phụ sưởi lửa bẩy ngày, sinh con gái sưởi lửa chín ngày, ứng với bẩy vía và chín vía. Khi đến ngày ra lửa, người mẹ phải tắm bằng nước lá thơm, gội đầu, thay váy áo mới. Chủ nhà mời bà mo đến cúng. Trong đời sống tâm linh của người Thái Tây Bắc, bà mo “một nhính” có vai trò rất quan trọng, được mời trong các lễ cúng cầu xin con cho các đôi vợ chồng hiếm muộn con – “xên so lụk”, cúng vía trâu – “tám khuôn quái”…
< Trừ tà tà cho nguồn sữa.
Bởi người Thái Tây Bắc quan niệm trên trời có một bà mụ gọi là “Me bẩu” chuyên dùng một khuôn để đúc người, cũng chính vì vậy trên đầu chỗ nằm của sản phụ bao giờ cũng có một chiếc bát cổ gọi là “thuổi bẩu” trong đựng tóc rối tượng trưng cho nhau của người mẹ.
Ông nội hoặc đàn ông trong nhà đan một chiếc giỏ tre nhỏ gọi là “tạy ho” để dánh dấu sự ra đời của đứa trẻ. Tạy ho của con trai làm thêm cái nỏ bé, quạt…, tạy ho của con gái có hai cánh và cái bật bông…. Đến khi qua đờì tạy ho sẽ đem hỏa thiêu cùng thi thể.
< Buộc chỉ giữ vía cho sản phụ.
Mâm cơm cúng bao giờ cũng có gà, trứng, xôi… Đầu tiên bà mo cúng ở gian thờ tổ tiên – “hỏng hóng, bên cạnh mâm cúng bao giờ cũng đặt chiếc váy của bà đỡ, người đã đón cháu bé chào đời. Bà mo thay mặt gia chủ báo cáo với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên, cầu xin cho hai mẹ con mạnh khỏe.
Sau đó mới cúng ở gian hai mẹ con nằm. Lời cúng ngoài kể lại quá trình mang nặng để đau, thì còn chúc cho đứa trẻ: “Thằng cu, cái hĩm đều to cao lớn đều/ Người Thái trong bản bảo nhau/ Sau này bố mẹ, ông bà sẽ được nhờ cậy cháu/ Con cháu trưởng thành lớn khôn…”.
Tiếp đó bà mo cúng cầu cho bầu sữa của người mẹ nhiều sữa, không tắc, bà mo lấy kéo cắt hờ trước đầu vú của sản phụ yểm không cho ma quỷ làm hại, rồi lấy rượu chải xuôi bầu vú cho không tắc tia sữa , lấy trứng xoa vào bầu vú người mẹ và chấm vào miệng đứa trẻ, cầu mong cho đứa trẻ hay ăn chóng lớn.
Trứng trong quan niệm của người Thái tượng trưng cho sự sinh sôi nẩy nở và viên mãn. Sau khi bà mo cúng xong, bà ngoại cắt tóc cho cháu. Sau đó bà mo buộc chỉ vào cổ người mẹ để giữ vía, mọi người buộc chỉ cổ tay cho cháu bé, cầu chúc và ban phước. Ông ngoại cháu bé treo nôi, bà mo còn cúng chiếc nôi cho cháu bé được ngủ ngon, sau đó bà nội đặt cháu bé vào nôi ru cháu ngủ, mọi người cùng ăn uống vui vẻ mừng cho gia chủ.Trong lễ thôi sưởi lửa này cháu bé sẽ được ông bà ngoại đặt tên. Ngườì Thái rất coi trọng bên ngoại, bởi quan niệm phúc lộc của con cháu là do họ ngoại mà có. Cũng vì vậy, trong lễ thôi sưởi lửa này người cao tưổi nhất bên ngoại được mời ngồi vị trí trang trọng nhất, mọi người đều buộc chỉ cổ tay cho cụ, cầu mong cụ mạnh khỏe, trường thọ, ban phúc cho con cháu.
Mỹ tục này được các thế hệ người Thái duy trì như một nét đẹp văn hóa. Mỗi thành viên thêm vững tin vào cuộc sống, kính yêu các bậc sinh thành, để rồi sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn.
Du lịch, GO! - Theo blog Tranvanhac, internet
Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012
Xem người Mông ăn Tết Độc lập
Dịp 2.9 này người Mông ở Lào, Trung Quốc, từ Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai hay cả Thanh Hóa, Nghệ An… đổ về Mộc Châu (Sơn La) để ăn Tết Độc Lập. Không khí Tết trong nhà tràn cả ra ngõ, ra cả đường vào bản.
Ngày Tết uống rượu, thổi khèn, đấu vật… và cũng là ngày những chàng trai cô gái Mông tìm người yêu, tìm bạn đời.
Tết Độc Lập cũng như Tết năm mới, người Mông cũng làm lễ cúng mời ông bà tổ tiên. Trẻ con thì háo hức trên lưng mẹ xuống chợ. Nhưng chờ đợi ngày Tết Độc lập có lẽ là những chàng trai cô gái Mông. Chàng trai thổi điệu khèn hay nhất, cô gái mặc chiếc váy hoa đẹp nhất, vòng bạc, đôi dép để dành đã lâu cũng mang ra dùng.
< Người Mông ở bản Cao Phạm đón khách bằng tiếng khèn, trò đấu vật. Rượu là thứ không thể thiếu trong ngày Tết.
Trong chợ, trên đường đều thấp thoáng những đôi trai gái tìm hiểu, tán tỉnh nhau. Tết Độc lập của người Mông cũng nổi tiếng bởi tục cướp vợ. Chàng trai may mắn sẽ cưới được người mình yêu nếu cô gái chịu ở lại nhà mình trong ba ngày.
< Xuống chợ tìm bạn.
Cũng bởi vậy, Mộc Châu luôn là địa chỉ vẫy gọi những người thích du lịch và khám phá. Trong ngày Tết Độc lập, Mộc Châu không chỉ là nơi đón người Mông về ăn Tết mà các dân tộc anh em cũng về chơi.
< Đêm xuống, những đôi trai gái tìm nhau. Chàng trai kéo cô gái của mình tìm nơi trò chuyện.
Đặc biệt, đây là cung đường yêu thích của nhiều dân phượt Hà Nội và nhiều tỉnh khác.
< Một gia đình người Mông đi xe máy xuống Mộc Châu chơi Tết.
< Lý A Sáng (trái) mang khèn do chính tay mình làm xuống chợ bán, giá mỗi chiếc khèn là 700 nghìn đồng.
< Mộc Châu trong Tết độc lập luôn thu hút những vị khách du lịch ưa khám phá.
< Giá nhà nghỉ bị đẩy lên tới 1,5 triệu/phòng. Nhiều người chọn cách đi chơi và ngủ đêm ngay ở chợ.
Đi chơi Tết, thưởng thức ẩm thực người Mông, mua những chiếc váy thổ cẩm, xem cướp vợ… là những trải nghiệm không thể quên đối với những ai đã đến với cao nguyên này.
Du lịch, GO! - Theo TTO
Ngày Tết uống rượu, thổi khèn, đấu vật… và cũng là ngày những chàng trai cô gái Mông tìm người yêu, tìm bạn đời.
Tết Độc Lập cũng như Tết năm mới, người Mông cũng làm lễ cúng mời ông bà tổ tiên. Trẻ con thì háo hức trên lưng mẹ xuống chợ. Nhưng chờ đợi ngày Tết Độc lập có lẽ là những chàng trai cô gái Mông. Chàng trai thổi điệu khèn hay nhất, cô gái mặc chiếc váy hoa đẹp nhất, vòng bạc, đôi dép để dành đã lâu cũng mang ra dùng.
< Người Mông ở bản Cao Phạm đón khách bằng tiếng khèn, trò đấu vật. Rượu là thứ không thể thiếu trong ngày Tết.
Trong chợ, trên đường đều thấp thoáng những đôi trai gái tìm hiểu, tán tỉnh nhau. Tết Độc lập của người Mông cũng nổi tiếng bởi tục cướp vợ. Chàng trai may mắn sẽ cưới được người mình yêu nếu cô gái chịu ở lại nhà mình trong ba ngày.
< Xuống chợ tìm bạn.
Cũng bởi vậy, Mộc Châu luôn là địa chỉ vẫy gọi những người thích du lịch và khám phá. Trong ngày Tết Độc lập, Mộc Châu không chỉ là nơi đón người Mông về ăn Tết mà các dân tộc anh em cũng về chơi.
< Đêm xuống, những đôi trai gái tìm nhau. Chàng trai kéo cô gái của mình tìm nơi trò chuyện.
Đặc biệt, đây là cung đường yêu thích của nhiều dân phượt Hà Nội và nhiều tỉnh khác.
< Một gia đình người Mông đi xe máy xuống Mộc Châu chơi Tết.
< Lý A Sáng (trái) mang khèn do chính tay mình làm xuống chợ bán, giá mỗi chiếc khèn là 700 nghìn đồng.
< Mộc Châu trong Tết độc lập luôn thu hút những vị khách du lịch ưa khám phá.
< Giá nhà nghỉ bị đẩy lên tới 1,5 triệu/phòng. Nhiều người chọn cách đi chơi và ngủ đêm ngay ở chợ.
Đi chơi Tết, thưởng thức ẩm thực người Mông, mua những chiếc váy thổ cẩm, xem cướp vợ… là những trải nghiệm không thể quên đối với những ai đã đến với cao nguyên này.
Du lịch, GO! - Theo TTO
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)


.jpg)


.jpg)























