Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

Kỳ lạ khu rừng nguyên sinh giữa thành phố

Chỉ khi bị mất phương hướng giữa vô số những gốc cây lớn nhỏ đan xen nhau tầng tầng lớp lớp tôi mới thực sự tin cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột chỉ 10km vẫn tồn tại một khu rừng nguyên sinh hùng vĩ đến như vậy.

Đó chính là rừng thiêng Chư H'lăm được các thế hệ dân bản người Ê Đê buôn Ea Mắp (Thị trấn Ea Pôk, Huyện Cư M'Gar, Tỉnh Đăk Lăk) nâng niu, bảo vệ như báu vật từ đời này qua đời khác.

Ánh mắt xa xăm nhìn về rừng già bạt ngàn, già làng Y Ruê Mlô kể cho chúng tôi nghe về sự tích rừng thiêng Chư H'lăm. Bằng giọng nói khỏe khoắn, vang xa như tiếng chiêng của người Ê Đê, câu chuyện của già làng Y Ruê Mlô như vọng về từ xa xưa trong tiếng mưa rừng.

Theo già Mlo, "H'lăm" theo tiếng Ê Đê có nghĩa là "loạn luân" và Chư H'lăm có nghĩa là ngọn đồi loạn luân. Cái tên kỳ lạ này vốn bắt nguồn từ câu chuyện về hai anh em đã phạm vào "luật trời". Người anh tên là Y Din, còn em gái là Hoan.

Lời nguyền truyền kiếp

< Một trong số những cây đại thụ của rừng H'lăm.

Đến nay, các cao niên trong buôn còn kể rằng, chẳng hiểu vì ma xui quỷ khiến mà giữa hai anh em ruột thịt lại nảy sinh tình cảm nam nữ. Bất chấp những luật tục hà khắc đã có từ ngàn đời, bất chấp những hình phạt khắc nghiệt về tội loạn luân, càng lớn, họ càng đem lòng yêu thương nhau tha thiết, muốn được cùng nhau nên vợ nên chồng. Khi cái tin đôi trai gái cùng cha mẹ yêu nhau đã phạm vào "phép trời" ấy vừa được loan đi, họ liền bị dân làng bắt phạt một con trâu trắng để cúng tạ tội với Giàng. Đôi trai gái đi khắp nơi lên, rừng xuống biển để tìm trâu trắng mà không sao tìm được nên họ đành dâng lên già làng một con heo trắng.

Heo trắng được làm thịt, thui chín trên những ngọn lửa rực hồng, bỏ hết ruột gan dâng lên tế lễ. Khi dân làng đang cúi rạp mình trước biểu tượng của thần linh thì trời đất đột nhiên tối sầm. Một cơn giông tố cuồn cuộn nổi lên, bụi tung mù mịt, cuốn phăng mọi thứ. Heo trắng bỗng dưng sống dậy, vừa chạy vòng quanh buôn làng vừa cất tiếng kêu thất thanh.

Heo chạy đến đâu, đất đá dưới chân heo nứt ra đến đấy như người ta cắt một miếng bánh sôcôla hình tròn. Heo chạy vừa hết một vòng thì cả buôn làng, người già người trẻ, trâu bò, lợn gà, nhà cửa... hoàn toàn biến mất để lại một hố đen sâu hoắm. Từ dưới hố đen chết chóc ấy, nước bắt đầu dâng lên nhấn chìm tất cả. Đó chính là hồ nước có tên Sình Đỉa bây giờ nằm dưới bóng rừng già Chư H'lăm quanh năm xanh tốt. Tuy nhiên, theo già làng Mlo, đây chỉ là câu chuyện được truyền lại, chưa ai có thể xác minh được.

Và khu đồi Chư H'lăm cũng hình thành từ đó. Cây rừng thi nhau mọc lên bao phủ kín hết lối đi như một tường hào vững chắc chắn lối vào buôn làng đã bị thần linh trừng phạt. Theo già Mlo, điều kỳ lạ nhất là nếu ai bước đến rừng già Chư H'lăm mà vô tình hoặc cố ý nhắc đến tên hai anh em Y Din và Hoan thì sẽ bị lạc trong rừng. Đến lúc này chúng tôi mới hiểu vì sao già làng Y Ruê Mlô nhất định không kể chuyện cho tôi nghe khi đang ở trong rừng.

Cách bảo vệ rừng đặc biệt

< Rừng nguyên sinh Cư H’Lăm sát bên tỉnh lộ 8 mà vẫn được bảo vệ an toàn nhờ truyền thuyết.

Bao quanh bìa rừng Chư H'lăm là khu hồ rộng lớn có tên Sình Đỉa. Nó giống như một chiếc gương khổng lồ ngàn đời soi bóng rừng Chư H'lăm. Đứng trên cao nhìn xuống có lẽ ít ai kìm lòng được trước vẻ đẹp hữu tình của phong cảnh nơi đây. Bên này hồ là màu xanh thâm trầm của rừng già Chư H'lăm với biết bao điều bí ẩn. Bên kia hồ là màu xanh tươi mơn mởn của những đồi cafe, cao su trải dài tít tắp. Và cũng chẳng ai hiểu nổi vì sao một hồ nước trong xanh, mỹ miều là thế lại bị đặt cho cái tên chẳng mấy tốt lành "Sình Đỉa". Nhìn theo ánh mắt xa xăm của già làng Chư H'lăm, tôi gần như ngầm hiểu đó hẳn là một câu chuyện rất dài.


< Hồ Chư’h Lăm được hình thành sau cơn nổi giận của thần núi.

Kể về Sình Đỉa, già làng Y Ruê Mlô cho biết, điều kỳ lạ là trước đây, hồ nước ấy không hề có bất cứ một con tôm, con cá nào mà chỉ toàn đỉa. Chúng ngoi lên đen ngòm mặt nước. Loại vật này bò lổm ngổm trên những đám cỏ mọc um tùm quanh hồ. Hễ có con trâu, con bò nào bén mảng đến hồ uống nước liền bị đỉa bâu kín vào hút máu. Nghe đến đây, tôi gần như đứng tim vì sợ hãi. Già làng tinh ý vội khua tay để trấn an: "Đó chỉ là câu chuyện mà các cụ truyền lại thôi, bây giờ hết rồi, người ta bơm thuốc giết hết đỉa rồi. Hiện tại, người ta còn nuôi cá trong hồ nữa mà".

Từ nhiều đời nay, tất cả những người trong buôn Ea Mắp đều tin rằng Sình Đỉa là một hồ nước không có đáy. Cách đây nhiều năm, người trong buôn đã được một phen kinh ngạc khi chứng kiến nước trong hồ đột nhiên rút đi đâu hết chỉ sau một đêm. Cả một vùng hồ rộng lớn bỗng dưng chỉ còn trơ đáy. Trong khi đó, hồ nước này giống như một chiếc ao tù không có cửa vào mà cũng chẳng có cửa ra. Và rồi khi dân làng chưa hết xôn xao, chưa biết lý giải vì sao cho sự việc kỳ lạ thì cũng chỉ sau một đêm, nước từ đâu lại trở về lênh láng mặt hồ. Mọi người chỉ còn biết trao cho nhau những cái nhìn ngơ ngác trước những sự lạ lùng không sao giải thích được.

< Già làng Y Ruê M’lô, kể truyền thuyết về rừng thiêng Cư H’Lăm.

Từ khi sinh ra, già làng Y Ruê Mlô và những đứa trẻ trong làng đã được người già dạy, không được động đến cây cối trên rừng dù chỉ là một cành củi mục. Trong ý thức của mỗi người dân nơi đây, rừng già Chư H'lăm là nơi bất khả xâm phạm. Họ quan niệm rằng, nếu lấy gỗ trên rừng làm nhà thì sẽ mang về những điều xui xẻo, xấu xa. Từ bao nhiêu đời nay, không một ai bất kể già trẻ, gái trai trong buôn Ea Mắp dám phạm vào điều cấm kỵ. Với họ, luật lệ này còn lớn hơn cả một lời nguyền.

Già làng Y Ruê Mlô xúc động nhớ lại, những ngày đói kém trước đây nhờ rừng cho thức ăn mà buôn làng không ai bị chết đói. Mọi người lên rừng nhặt trái dâu, đào củ mài, bắt con thú để nuôi nhau, dựa vào rừng mà sống. Cho nên cái ơn của rừng sao có thể thể quên? Sao có thể chặt cây phá rừng để trả cái ơn đó được. Đó là nguyên nhân khiến một khu rừng nguyên sinh vẫn còn tồn tại cạnh thành phố Buôn Ma Thuột như một minh chứng về tình yêu, ý thức bảo vệ rừng của người dân nơi đây.

< Bà con dưới chân núi Chư H’Lăm vào rừng tận thu cành cây gãy đổ.

Nhưng lòng tham của con người thật không thể nào đo đếm được. Rừng già Chư H'lăm với những cây gỗ quý suốt bao năm không một ai đụng đến cứ vươn mình sừng sững như một miếng mồi ngon đầy thách thức trước sự thèm muốn điên cuồng của những tên lâm tặc. Khi thấy những cây quý trong rừng bỗng dưng biến mất, những người trong buôn Ea Mắp vẫn không ngờ rằng có kẻ nào đó dám xâm phạm đến khu rừng này.

Sự thật là rừng thiêng Chư H'lăm đã bị tổn thất nhiều cây gỗ quý. Nhiều người dân nói với nhau rằng, nếu pháp luật không xử lý những tên lâm tặc thì rừng già Chư H'lăm linh thiêng cũng sẽ mang đến cho họ những điều không hay. Tuy nhiên, theo già làng Mlô những câu chuyện lạc đường khi nhắc đến câu chuyện hai anh em ruột yêu nhau, thần linh cai quản rừng H'lăm là do người dân thêu dệt để giữ rừng, cho những tên lâm tặc không dám vào phá rừng.

< Cây đại thụ trong rừng Chư H’Lăm.

Theo kết quả khảo sát, điều tra mới đây của Trường Đại học Tây Nguyên, hệ thực vật của rừng Cư H’lăm hiện có 112 loài thực vật, trữ lượng gỗ trên 400m3/ha. Trong rừng vẫn tồn tại nhiều cây gỗ quý cổ thụ như cẩm lai, cà te, giáng hương, gõ mật… 71% cây rừng có đường kính trên 50cm; có nhiều loại cây dược liệu qúy. Động vật sống ở rừng Cư H’lăm cũng khá đa dạng và phong phú cả về số lượng và loài, gồm các loại thú như chồn, cu li, kỳ đà, nhím, trăn, rắn… và rất nhiều lài chim khác nhau. Qua đó có thể dánh giá, rừng Cư H’lăm có giá trị lớn về mặt môi trường – sinh thái.

Còn đối với người dân nơi đây, khu rừng thiêng đã đền đáp công bảo vệ của họ là tạo một môi trường sinh thái trong lành. Rừng Cư H’lăm đã bảo vệ nguồn nước ngầm cho cả khu vực quanh thị trấn Ea Pốk, giúp các giếng nước tưới cho hàng trăm ha cà phê của 4 thôn đồng bào xung quanh như: Cư H’lăm, Mắp, Lang và Sút không bao giờ bị cạn nước, kể cả vào những năm hạn hán khốc liệt nhất.

Với những giá trị đang tạo ra cho đời sống con người nơi đây, rừng Cư H’lăm đã được công nhận là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Mới đây, một doanh nghiệp du lịch ở Đắk Lắk cùng một doanh nghiệp du lịch ở TP Hồ Chí Minh đã liên kết và xin chủ trương cho phép được khảo sát, xây dựng dự án để đầu tư làm du lịch sinh thái – văn hóa tại khu rừng thiêng này.

Du lịch, GO! - Theo Người Đưa Tin, Petrolimex, internet


Hai giờ lạc giữa rừng già

Theo chân già làng Y Ruê Mlô, chúng tôi men theo lối mòn dẫn lên đồi Chư H'lăm. Đây là ngọn đồi mà tất cả người dân nơi đây mỗi khi nhắc đến đều không giấu nổi những cảm xúc tôn kính, trang nghiêm. Càng tiến sâu vào Chư H'lăm, chân tôi càng bị lún sâu trong những lớp thảm mục dầy, mịn. Lần đầu tiên trong đời, tôi được nhìn tận mắt, sờ tận tay những cây cổ thụ to lớn hàng trăm năm tuổi. Rễ của đại thụ này trồi lên mặt đất, cao cả chục mét giống như cột trụ trời.

Vào sâu một đoạn khá xa, tôi bắt đầu có cảm giác người mình bị đổ dần về phía trước như có người đẩy phía sau. Hóa ra, chúng tôi đang thả dốc xuống một thung lũng. Điều kỳ lạ là khi tôi hỏi già làng về những câu chuyện liên quan đến khu rừng thì mặt ông lập tức biến sắc. Già một mực bảo không thể kể ở đây mà phải đợi về nhà mới nói được. Mãi về sau tôi mới hiểu đó là một câu chuyện dài liên quan đến lời nguyền truyền kiếp về rừng già Chư H'lăm mà tất cả những người dân trong buôn làng từ nhiều đời nay không bao giờ vi phạm.

Chẳng hiểu vì sao, sau câu hỏi của tôi, mà một người đã gắn bó hơn 70 năm cuộc đời với đất rừng này như già làng Y Rê Mlô cũng bị lạc. Chúng tôi càng đi càng không thấy đường, chỉ thấy cây rừng chen chúc nhau bao vây tứ phía dưới thứ ánh sáng yếu ớt, mờ ảo lọt qua những tán cây dày đặc đan chéo nhau như ma trận. Phải mất gần hai tiếng đồng hồ luồn lách như những con rắn chúng tôi mới tìm được lối ra. Chưa khi nào tôi thấy vui mừng khi được thấy ánh sáng mặt trời đến thế...

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu


Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, là khu rừng nguyên sinh ven biển duy nhất còn lại tương đối nguyên vẹn của Việt Nam. Nơi đây có tiềm năng du lịch rất lớn với nhiều dạng địa hình gồm cả đồi, núi, suối, hồ, biển và rừng.

Được thành lập từ năm 1978 với tên gọi “Khu rừng cấm Bình Châu” với mục đích bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học, là nơi cung cấp, cư trú cho các loài sinh vật, đặc biệt là các loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN thế giới.

< Cây đỏ ngọn trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Đứng từ ngọn hải đăng Ba Kiềm cao nhất trên đỉnh núi, chúng tôi phóng tầm mắt ra bốn phía. Trước mặt là con đường ven biển cong hình lưỡi liềm đẹp mắt. Phía sau là ngút ngàn màu xanh của cây rừng trùng điệp trải dài trên ranh giới hành chính gồm 4 xã Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang, Phước Thuận và thị trấn Phước Bửu.

< Hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng của các cán bộ kiểm lâm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Do địa hình tương đối bằng phẳng, thoai thoải đổ vào trung tâm nên tạo thành 4 vùng địa hình khác nhau. Vùng bằng phẳng chiếm diện tích 9.902 ha, trải rộng từ phía Bắc đến phía Nam.

< Cây Dầu Lông, loài gổ rừng thường thấy trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Ở phía Tây có một vài ngọn núi cao từ 100 đến 150 mét và những quả đồi thoai thoải xen lẫn với những bàu nước ngọt tự nhiên. Tổng diện tích của vùng có địa hình đồi khoảng 350 ha. Vùng cồn cát ven biển có diện tích khoảng 940 ha, chạy dọc trên 17 cây số bờ biển. Vùng bưng bàu, hồ nước diện tích khoảng 200 ha, nằm rải rác trong Khu bảo tồn.

< Lá cây nắp ấm, một loài thực vật bắt mồi côn trùng nhiệt đới trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Khu bảo tồn thiên nhiên này được xếp vào “Kiểu thực vật rừng kín, nửa rụng lá ẩm nhiệt đới”. Các dạng địa hình khác nhau đã tạo cảnh quan sinh động, đa dạng gồm: đồi, núi, suối, hồ, biển và rừng, tạo thành nơi cư trú rất đa dạng cho các loài động, thực vật…

< Chim Phướn trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Với diện tích 11.293 ha, rừng Bình Châu-Phước Bửu có thảm thực vật nguyên sinh vô cùng phong phú, gồm: 113 họ, 408 chi, 661 loài, trong đó có nhiều loài rất quý hiếm như: Cẩm lai Bà Rịa, Gõ đỏ, Gõ mật, Kơ nia, Giáng hương, Bình linh nghệ, Sơn đào... Động vật cũng rất đa dạng, có 70 họ, 29 bộ, 178 loài, trong đó 106 loài chim, 43 loài bò sát, 12 loài lưỡng cư, 51 loài thú… Hiện nay, có nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới như: Gà lôi vằn, Bồ câu nâu, Cú lợn rừng, Yến núi.

< Nhện lông trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, cộng đồng… Giữa ngút ngàn rừng nguyên sinh nổi lên một bàu nước nóng hơn 70 điểm phun lộ thiên có mạch nước nóng hoạt động rộng gần 1 km2.

< Chim hút mật đỏ trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Hơi nước bốc lên tạo một nồi xông hơi thiên nhiên khổng lồ. Nước ở đây có nhiệt độ từ 40ºC đến 64ºC rất phù hợp để chữa bệnh. Khu du lịch suối khoáng nóng Bình Châu nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu, được tổ chức du lịch thế giới chính thức công nhận là một trong 65 khu du lịch sinh thái bền vững của 47 quốc gia trên toàn thế giới.

< Chim Bắp Chuối mỏ dài trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Với dải rừng nguyên sinh, những bàu nước, những đỉnh núi như Hồ linh, Tầm Bồ, núi Mộ Ông, Hồng Nhung… hoang sơ, bí ẩn, đang chờ sự trải nghiệm của du khách với những chuyến đi về rừng. Vườn sưu tập cây gỗ rừng có diện tích 50,8 ha phân bố trong Khu Bảo tồn đã được định danh và gắn bảng tên cây. Khu cứu hộ động vật có diện tích 8 ha, hiện đang có một số loài thú móng guốc như: hươu sao, nai, khỉ, heo rừng, nhím và một số loài thú khác.

< Nai rừng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Đây là điểm đến thú vị nếu bạn muốn khám phá hệ động, thực vật. Bạn cũng có thể ngồi thuyền dạo quanh khu rừng tràm tự nhiên rất đẹp với hệ sinh thái đất ngập nước để tận hưởng cái cảm giác trong lành, sảng khoái và thú vui câu cá nơi đây.

< Rắn lục mép trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Do nằm ven theo bờ biển nên Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu đang phát triển Khu dịch vụ và du lịch ven biển. Bãi biển Hồ Cốc dọc theo con đường ven biển với bãi cát dài và sạch đẹp, nước biển trong xanh, sóng êm dịu và an toàn là bãi tắm lý tưởng cho mọi người vào những ngày nghỉ cuối tuần.

< Sóc chân vàng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.

Rời Khu bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu trong cái nắng chiều đang ngả qua từng chiếc lá, chúng tôi vẫn cảm thấy nuối tiếc khi chưa thể đặt chân đến hết những nơi mà anh Nguyễn Bá Xuân, một cán bộ trẻ của Khu bảo tồn giới thiệu. Anh háo hức kể cho chúng tôi nghe về các dự án phát triển Khu Bảo tồn đang thực hiện như: Xây dựng vườn lan rừng tự nhiên để bảo tồn các loại lan rừng quý hiếm, kết hợp tham quan, nghiên cứu; Mở các tuyến xuyên rừng giới thiệu về tài nguyên động - thực vật rừng kết hợp nghỉ dưỡng, chữa bệnh suối nước nóng Bình Châu…

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Oanh, Nguyễn Luân (Vnanet)

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Thăm Đảo Tiên

Cách TP.HCM khoảng 170 km, Đảo Tiên (thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên) như một trái núi nhỏ nằm giữa sông Đồng Nai nơi thượng nguồn.
Dưới những tán rừng nguyên sinh rộng 57 héc ta, có những con người đã "lôi kéo" vượn, voọc, culi về đây nuôi dưỡng. Đó là các chuyên gia về động vật và môi trường của tổ chức Monkey World cùng các nhân viên lâm sinh Việt Nam, cùng chung nỗ lực cứu hộ loài linh trưởng đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam và Campuchia.

Bước lên Đảo Tiên, cuộc bách bộ dài 700 mét của du khách được nhắc nhở đừng gây tiếng ồn, đừng bỏ lỡ cơ hội nghe được tiếng hạt sương rơi độp trên lá khô, tiếng vượn hú vang vọng dưới những vòm xanh, như những lời đón chào thân thiện.

Đảo Tiên đón du khách bằng li ti hoa dại dưới chân, cây xanh, dây leo đan kín, những cây khô già in trên nền trời như một bức tranh…

Đến giữa Đảo Tiên du khách sẽ gặp Tiến sĩ Marina, công dân Anh, người đã sống ở đây gần 5 năm để nghiên cứu khoa học và chăm sóc các loài linh trưởng. Mỗi sáng, bà là người nội trợ ra thực đơn cho các “cô cậu” đang nhảy nhót trong chuồng. Khi chúng no nê thì bà quan sát xem cả lũ vui đùa ra sao để giúp chúng chuyển tiếp tập tính sống trong sự nuôi nhốt ra môi trường tự do.

Đến Đảo Tiên, du khách như trở lại bài học phổ thông về nguồn gốc loài người, kiến thức về đời sống của các loài linh trưởng... Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã ở Cát Tiên đã nỗ lực để các loài linh trưởng được đưa về đây từ nhiều nguồn, bị săn bắt, nuôi nhốt...được chăm sóc, ăn uống đúng cách, được hỗ trợ để sinh con đẻ cái và dắt nhau về lại rừng lập bầy đàn, sống hoà hợp với môi trường tự nhiên.

< Ban đầu, những con voọc phải sống trong những chuồng kín trước khi được huấn luyện chuyển tiếp tập tính sống.

Đến Vườn Quốc gia Cát Tiên, ngoài cảnh quan quyến rũ, hít thở không khí trong lành giữa rừng nguyên sinh, du khách còn có cơ hội tìm hiểu, quan sát đời sống sinh động và thú vị của những chàng “Tề Thiên” chuyền cành, hái lá, bẻ trái cho vợ cõng con lẽo đẽo theo sau tại Đảo Tiên.

Đảo Tiên, một hòn đảo nhỏ nhưng cho chúng ta hiểu thêm một điều lớn về sự sống của muôn loài, trong đó có con người, nương tựa nhau dưới những vòm xanh, trong sự đa dạng và cân bằng sinh học.

Du lịch, GO! - Theo Phunuonline

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Thánh địa đầy huyền thoại ở Việt Nam

Trong tâm thức của tôi, Cát Tiên hiện lên như một oai linh nơi rừng thẳm đầy ma lực và trong một chuyến phiêu lưu, tôi tìm về vùng thánh địa - một địa danh đặc quánh huyền thoại mà mãi đến bây giờ báo chí vẫn đang tốn khá nhiều giấy mực.

Những cung đường dẫn đến miền đất cổ

Từ Cù Lao Phố, Biên Hòa, chúng tôi xuôi theo quốc lộ 13 đến Lái Thiêu, Bến Cát rồi dừng chân ở huyện Chơn Thành. Chơn Thành - một cái tên nghe rặt Nam Bộ. Người miền Nam cổ, không biết vì lý do gì thường hay né thuật ngữ có âm tự ơn phía sau, ví dụ như chân đọc là chơn, nhân đọc là nhơn. Chơn Thành nay thuộc tỉnh Bình Phước, là một địa danh quan trọng về mặt địa lý đối với miền Đông Nam Bộ.

Với diện tích 390km2, phía Bắc là đất đỏ, phía Nam là đất xám bạc, Chơn Thành hội tụ được thổ nhưỡng kép, theo các nhà địa lý, những nơi như thế thường là vùng địa linh.

Theo truyền thuyết, vào đầu thế kỷ thứ 19, chúa Nguyễn Phúc Ánh đã cát cứ vùng đất này để tiến về tấn công thành Gia Định nhưng bị quân Tây Sơn bao vây, ông thoát được nhờ bà con địa phương giúp đỡ bảo vệ. Vì vậy, sau này lên ngôi, vua Gia Long nhớ thuở hàn vi của mình nên đặt tên là Chân Thành như để trả ơn.

Rồi vào những năm 60 và 70 của thế kỷ 20, Chơn Thành là nơi đặt tổng hành dinh một sư đoàn của chế độ cũ và một đại bản doanh sư đoàn kỵ binh của đội quân viễn chinh khác. Sau ngày đất nước thống nhất tại đây cũng là điểm giao thương của hai quốc lộ 13 và 14.

Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước huyện lỵ này dân cư thưa thớt, nhưng bạt ngàn cỏ Mỹ, vào mùa khô loại cỏ rãi hạt từ máy bay này chuyển màu nâu sạm đến nhức mắt, chỉ cần một que diêm là cả vùng chìm trong biển lửa, và cứ thế cỏ tái sinh như dòng đời của một bộ tộc không có văn tự. Bây giờ Chơn Thành trở nên giàu có nhờ các loại cây công nghiệp như cao su và điều, đã có ba khu công nghiệp lớn mọc lên trên vùng đất đầy cỏ Mỹ này.

Tại Chơn Thành, chúng tôi rẽ sang quốc lộ 14, con đường chiến lược ở phía Tây Tổ quốc dài 890km bắt đầu từ đây và kết thúc tại cầu Đakrông thuộc tỉnh Quảng Trị, đây là quốc lộ có chiều dài thứ hai đứng sau quốc lộ 1. Dọc theo đường 14 là những cánh rừng cao su bạt ngàn, chúng tôi vượt qua những nơi đông đúc dân cư, những khu công nghiệp rồi dừng chân ở ngã ba Sao Bọng thuộc huyện Bù Đăng, Bình Phước. Địa bàn huyện này phần lớn diện tích nằm trong vườn quốc gia Cát Tiên được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Bù Đăng là quê hương của sóc Bom Bo, một thời được nhắc đến nhiều nhờ bài hát đi cùng năm tháng của cố nhạc sĩ Xuân Hồng. Bài hát được minh họa thêm vũ điệu của các sơn nữ Stiêng giã gạo suốt đêm với những ngọn đuốc bập bùng để kịp thời mang ra tuyến lửa. Âm điệu và nội dung của bài gần như đánh thức cả nước cũng như bạn bè quốc tế về cuộc chiến tranh nhân dân của Việt Nam.

Bù Đăng bây giờ là vương quốc của hồ tiêu và những rừng điều bạt ngàn. Tại ngã ba Sao Bọng thuộc xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng có đường rẽ phải, đó là con đường độc đạo nối liền Bình Phước - Lâm Đồng và cũng là con đường dẫn vào vùng thánh địa. Sao Bọng là tên của một cây sao bị hư phần lõi nhưng cây vẫn đứng sừng sững ở ngã ba nên gọi là ngã ba Sao Bọng. Cây sao bây giờ không còn nữa, nhưng người ta vẫn dùng tên của nó đặt cho khu vực này.

Dân cư sống tại đây nguồn thu nhập chính là cao su, hồ tiêu và điều lộn hột. Khi chúng tôi đến đang là mùa thu hoạch điều. Điều là loại cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao nhưng chỉ lấy hột không sử dụng quả. Tại các vườn điều, những quả chín màu vàng tươi hay màu đỏ bầm rụng xuống nằm lăn lóc dưới đất, chẳng ai buồn nhặt. Chúng tôi cảm thấy xót, rồi tự hỏi tại sau các nhà khoa học, những tiến sĩ về nông học không tìm cách chế biến quả điều chín mọng ngọt lừ mang mùi hương tươi nguyên này ra một loại thương phẩm nước uống khác, vì số lượng quả chín chiếm gần 98% giá trị hàng hóa của điều.

Chuyện ở cửa rừng vào thánh địa

Tại quán cà phê ở ngã Sao Bọng, lúc chúng tôi mở bản đồ xác định chiều dài con đường để tìm vào di tích Cát Tiên, một người đàn ông tự mình mang ly cà phê sang bàn chúng tôi chào hỏi và góp chuyện. Ông ta tự giới thiệu tên là Năm Hoành. Ông Hoành trên 50 tuổi, vóc người cao lớn, râu tóc dài, da ngăm đen với đôi mắt sâu kỳ bí như người rừng ở triền núi Hymalaya. Sau khi tự giới thiệu đôi nét về mình, ông Hoành kể cho chúng tôi nghe chuyện dài nhiều tập về Cát Tiên bằng âm sắc của một mẫu người giang hồ từng trải đã đến giai đoạn “gác kiếm”.

Uống phần cà phê cuối cùng còn đọng ở đáy ly, ông từ tốn: “ Trong những lần có dịp ra quán nước ở ngã ba này, tôi được gặp nhiều người, họ là nhà văn, nhà báo, nhà khảo cổ hay những du khách tây ta vì tính tò mò tìm đến vùng Cát Tiên để tìm hiểu về thánh địa, nhưng phần đông họ chỉ đến đó để xem xét xin tài liệu ghi chép, chụp ảnh rồi hối hả ra về. Cuối cùng là những bản sao chép hay câu chuyện kể một chiều, người đọc chả thấy có điều gì mới xuất hiện.

Xin nói với các ông rằng, khu Cát Tiên nơi mà các ông sắp đến, chỉ là phần nổi của thánh địa. Tôi đã sống gần cả đời ở trong rừng để đãi vàng và truy tìm đền đài cổ tại 4 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương và Lâm Đồng thuộc đầu nguồn sông Đạ Đờng.

Tôi là người không được học nhiều như các ông, nhưng là người trực tiếp đào bới tìm vàng sa khoáng trong rừng, thời trai trẻ của tôi trải dài ở chốn rừng sâu nước độc, quanh năm ngủ dưới những bóng cây già nên gần như thuộc lòng những địa danh có đền đài và vàng sa khoáng, thỉnh thoảng làm người dẫn đường cho những ai có máu phiêu lưu mạo hiểm đánh bạc với niềm hy vọng. Nhưng những người tôi biết, hầu như không thấy ai trở nên giàu có, chưa nói là bỏ mạng ở giữa rừng.

Thực ra thánh địa Cát Tiên rất rộng có thể rộng hơn 719km² của vườn quốc gia Cát Tiên, bắt đầu từ ngã ba sông Bé đến Phú Giáo ngược về Bù Đăng. Ở phía Tây Bắc Đồng Nai, tại phân trường 3 lâm trường Hiếu Liêm, phân trường 2 lâm trường Vĩnh An và phân trường Lý Lịch của lâm trường La Ngà còn đầy di vật của người xưa. Nhất là địa phận ở lâm trường Vĩnh An dọc theo suối Samat có khá nhiều ngôi đền cổ, mỗi ngôi đền đều nằm gọn trong lòng các ngọn đồi nhỏ mang hình bát úp cách nhau vài chục mét liên tục như cánh đồng Chum hạ Lào. Có ngôi đền nằm trong hang đá, khi chúng tôi mò vào lạnh buốt cả người, ở phía xa cách vài bước chân trong hốc đá xuất hiện vài cái đầu con trăn đất bằng nắm tay le lưỡi chực chờ.

Những đền đài nằm trong lòng đất tại các nơi tôi nói chỉ có tượng thần Siva bằng đá huyền vũ, kích thước bằng bắp tay con người, nặng khoảng 10 ký, thỉnh thoảng đào được vàng nhưng rất hy hữu. Những cổ vật mà chúng tôi nhặt được đã thay thông điệp của người xưa khẳng định rằng nơi đây từng là nơi của một vương quốc hoặc là lãnh địa tôn giáo của người xưa, đó là chuyện có thật.

Và cuối cùng như các ông đã thấy, những người từng đi săn tìm kho báu như chúng tôi sau này đều bị trả giá ở thời hậu vận. Tôi khuyên các ông khi đến thánh địa hãy dóng lên hồi chuông bảo tồn, nếu được hãy phục chế lại để tiền nhân và con cháu còn nhớ một thời cổ sử đã trải qua những năm tháng rêu phong hay sương gió bào mòn. Khi đến thánh địa, đừng lấy nhầm bất cứ cổ vật gì mang về để rồi phải trả giá vào cuối đời như tôi, hãy nhớ lời khuyên của một vị thánh nhân ngày trước đến bây giờ vẫn còn giá trị tươi nguyên là: Cái gì của César hãy trả lại cho César”.

Chúng tôi biết ông “người rừng” này nói thật, vì những thuật ngữ và phong cách diễn đạt mang phong cách của người có học, từng trải đã từng theo những canh bạc núi rừng của một thời trai trẻ. Ông lịch sự chào chúng tôi rồi lặng lẽ bỏ đi, để lại những tia mắt đầy lửa như thách thức. Nhìn dáng đi và cách nói đầy thần khí của ông như một vị chỉ huy đã từng chiến bại. Trong đời thường, những bại tướng khi về già thường sống thật, vì có thêu hoa dệt gấm hay cường điệu thêm điều gì để đánh bóng cho mình cũng là người thua trận. Nhưng chính họ là người để lại đời sau những kinh nghiệm xương máu, ông “người rừng” đã dạy chúng tôi bài học vỡ lòng đầu tiên trước khi vào thánh địa.

Thánh địa Cát Tiên có thật mà như huyền thoại

Sau khi trải qua chặng đường dài 297km hiện trên xe máy, chúng tôi đến cầu dây Phước Cát đoạn bắc qua sông Đạ Đờng cũng là ranh giới của 2 tỉnh Bình Phước - Lâm Đồng. Vào tháng 6 tại xã Phước Cát mưa như trút nước, Cát Tiên là vùng đất cuối cùng của Nam Tây Nguyên nên thường gánh chịu mưa gió và lũ lụt, những cơn mưa trắng trời xối xả cả tuần, sau đó đối mặt với những cơn lũ từ nước sông tràn lên như muốn xóa sổ sự sống con người.

Dòng sông Đạ Đờn những năm gần đây nước đổ về đỏ ngầu như sông Hồng. Chỉ cách đây vài năm, con sông này nước vẫn còn xanh trong, điệp theo màu của rừng núi mà bây giờ đã chuyển sang màu lạ. Tôi hỏi những người dân địa phương, họ chỉ tay xuống những chiếc xà lan chở cát đang oằn mình chạy dưới sông với tiếng máy nổ phành phạch như muốn phá vỡ không gian tĩnh lặng của núi rừng. Dân địa phương cho biết do những xà lan hút cát đã bức tử dòng sông. Họ đã làm sụp đất mất vườn, mất nhà cửa của một số hộ dân sống ven bờ.

Theo hướng chỉ tay của một cư dân địa phương, chúng tôi nhìn thấy cả cây dừa lẫn cây điều sum sê một nửa thân cành, rễ đứng chênh vênh bên bờ sông sẵn sàng đổ ụp xuống trôi theo dòng nước bất cứ lúc nào. Vì lợi nhuận, con người thường giải bài toán cơm áo trước mắt mà không nghĩ đến hệ quả cũng như các đền tháp cổ, người ta đã đập phá đào bới tìm vàng bạc mà không nghĩ đến di sản của tiền nhân để lại. Bên ngoài mưa vẫn rơi như trút nước, bầu trời đen kịt. Biết không thể chờ đươc nữa, chúng tôi khoác áo mưa mò mẫm tìm đường vào nhà trọ ngay khu thánh địa.

Dọc theo tỉnh lộ 721, những quả đồi mang hình bát úp không cao đều đặn chạy theo hình cánh cung ôm cánh đồng lúa xanh rì. Ở phía bên kia con sông nhuộm màu đỏ bầm là cánh rừng già nguyên sinh, một ngọn đồi cao sừng sững giữa thung lũng được bao bọc bởi sông Đạ Đờn là trung tâm thánh địa Cát Tiên.

Cô Đinh Thị Chung, hướng dẫn viên của di tích dẫn chúng tôi trèo 185 bậc đá lên tận đỉnh đồi tháp. Nhìn những bức tường bằng gạch dày cả mét nằm xếp chồng lên nhau đổ nát với những cánh cửa làm bằng đá huyền vũ dày 40cm diện tích 6m2 nằm chênh vênh, bên trong chính diện là tượng của Linga và Yony bóng loáng thấy cả mặt người đã khiến cho hậu thế phải chạnh lòng. Vương quốc xưa nào đã ngự trị nơi đây mà bây giờ thành quách đền đài trở thành hoang phế.

Ở phía mặt tiền đền tháp sâu thẳm là dòng sông Đạ Đờn uốn lượn với tiềng thác đổ rì rầm như hơi thở của người xưa còn vang vọng đâu đây, gai óc chúng tôi nổi lên hình tượng một thời oanh liệt của triều đại vương quyền. Cách tháp chính vài trăm mét là những ngôi đền nằm rải rác, cũng bằng những viên gạch to bản xếp chồng lên nhau tang thương như những con người cố ôm giữ báu vật để gìn giữ chống chọi với thời gian và tham vọng của con người.

Thánh địa Mỹ Sơn, di tích chính của văn hóa Chămpa ở Quảng Nam do người Pháp phát hiện vào năm 1885. Đúng 100 năm tức là năm 1985, Cát Tiên do người Việt phát hiện. Vị trí của hai thánh địa này có nhiều điểm tương đồng như cổng tháp được quay về hướng Đông để nhận ánh mặt trời, cùng nằm ở thung lũng được bao bọc bởi dòng sông và những ngọn đồi bát úp. Cả hai thánh địa đều bị điêu tàn nhưng đây đó vẫn còn sót lại những mảng điêu khắc mang dấu ấn hoàng kim.

Điểm khác của Cát Tiên là mang đậm dấu ấn tôn giáo Bàlamôn, các nhà khảo cổ cho rằng nơi đây từng là một đô thị tôn giáo cổ xưa, được kiến tạo trong giai đoạn lịch sử không thành văn. Vì vậy di tích Cát Tiên ra đời trong thời kỳ nào, thuộc phong cách nghệ thuật nào, chủ nhân là ai... là những câu hỏi mà suốt từ khi phát hiện qua bốn lần khai quật đang vẫn còn tranh luận.

Các đền tháp ở Cát Tiên dựa theo bình đồ vuông giật cấp nhiều lần, trong 20 đền tháp và đền mộ đều có kiến trúc và uy nghi giống nhau nhưng tất cả đều mang dáng dấp của Ấn Độ giáo vươn lên trong hình thái vương quyền và thần quyền liên kết để trị quốc. Trong 4 lần khai quật đã tìm được 1.100 hiện vật trong đó có 265 phù điêu bằng vàng được người xưa gò mảnh mai phóng khoáng, hòa nhập vào nhau. Các cổ vật còn lại được chế tác với nhiều chất liệu khác nhau như đá huyền vũ, đá thạch anh, đất nung đỏ... Điểm nổi bật là những bộ sinh thực khí Linga-Yony được xem là lớn nhất Đông Nam Á với đường kính của Linga 0,7m, cao 2,1m và Yony làm bệ đỡ cho Linga hình vuông rộng 2,26m.

Cô Chung, người thuyết minh của di tích Cát Tiên, giải thích về hai ngẫu vật này: “Theo truyền thuyết, ngày xưa khi trời đất vào xuân cũng là mùa sinh sản của cây cối cũng như con người. Vào lúc ấy, tín đồ từ các nơi khác đến thánh địa để dự lễ hội. Trên sân gạch rộng trước đền, tín đồ bước vào hai căn nhà gạch, nữ một bên và nam một bên, tại đây họ trút bỏ mọi thứ bụi trần, trút bỏ quá khứ thân phận. Khi bước ra sân đền tham dự nghi lễ, giữa khung cảnh thâm u của đại ngàn, hòa với tiếng gào thét của dòng sông, họ trở về nguồn cội thuở hồng hoang thành những con người bình đẳng của thời nguyên thủy.

Những đứa trẻ sinh ra trong dịp lễ hội này được xem là con của thần sáng tạo Brama, thần bảo tồn Vishu và thần hủy diệt Shiva. Chúng sẽ trở thành những người canh giữ đền thiêng, những tu sĩ nam nữ hiến thân cho tôn giáo phồn thực của dân tộc mình. Sau đó đoàn người xếp hàng tuần tự thành kính đi vòng quanh đặt tay lên Linga và hôn lên ngẫu tượng. Họ múc nước thần chảy từ lỗ thoát qua khe Yony dội lên đầu, té nước ướt hết thân mình, cầu cho sự tốt tươi mùa màng, cầu xin cho con cái loài người nảy nở nhiều như cỏ tranh trên cánh đồng, như măng tre măng nứa giữa mùa mưa… Chính vì vậy, khu di tích Cát Tiên được các nhà khảo cổ xếp loại là thánh địa của tôn giáo.

Theo các nhà khảo cổ, những gì khai quật được chỉ là phần nhỏ trong quần thể di tích. Giá trị văn hóa và những bí ẩn đầy sức hấp dẫn của vùng đất thiêng này không kém gì thánh địa Mỹ Sơn. Và để bảo tồn di sản cha ông, Bộ Văn hóa Thông tin đã giải ngân đợt một 400 triệu để làm công tác bảo vệ và hiện đang lập dự án 137 tỉ để trùng tu. Nơi đây một lần nữa chứng minh rằng người Việt luôn luôn giữ gìn tôn tạo di sản văn hóa của các dân tộc anh em như là của cha ông mình. Trong tương lai sẽ là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về miền đất huyền thoại có thật của tiền nhân.

Du lịch, GO! - Theo Cảnh sát toàn cầu, internet

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Kỳ thú VQG Hoàng Liên

Một góc VQG Hoàng Liên nhìn từ độ cao 2.900m.
Vườn Quốc gia (VQG) Hoàng Liên có 3 cái nhất, đó là đệ nhất Nam Sơn (ngọn núi cao nhất nước Nam) "đệ nhất đèo Nam" (con đèo hùng vĩ nhất Việt Nam cao 1.600m) và một kho báu về tài nguyên rừng lớn nhất nước, trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Đó là nhận xét của giới chuyên gia cũng như những ai đã từng khám phá nơi này.

Mới đây, vào một ngày đẹp trời, theo chân Hoàng Tùng, một nghệ sĩ nhiếp ảnh người bản địa, chúng tôi quyết định thực hiện một chuyến khám phá VQG Hoàng Liên. Điểm thử sức đầu tiên đương nhiên là Fansipan, ngọn núi có độ cao 3.143m so với mực nước biển và được mệnh danh là “đệ nhất Nam sơn”, hay còn gọi là “nóc nhà” của ba nước Đông Dương.

< Mây trắng bềnh bồng bao phủ dãy Hoàng Liên Sơn.

Đoàn xuất phát từ điểm cao 1.900m ở Trạm Tôn và đi bộ lên điểm cao 2.900m. Từ độ cao này có thể ngắm các bản làng của bà con các dân tộc Mông, Dao, Giáy… sống rải rác trên lưng núi.

< QG Hoàng Liên được ví như lá phổi xanh của khu vực Tây Bắc.

Trên cao 2.800m, cây trúc quân và tùng cổ thụ mọc thành rừng, lá xanh mướt, đều tăm tắp. Trên độ cao này, quanh năm gió rít tròn vo trên đầu, vậy mà hai giống cây này vẫn xanh tươi vươn lên mãnh liệt ngay giữa lưng chừng trời. Chúng bám vào đá núi mà sống ngang tàng. Có lên đến đây mới hiểu vì sao người xưa thường ví cốt cách người quân tử như tùng và trúc vậy.

< Du khách tham quan VQG Hoàng Liên.

Chiều xuống, mấy anh dẫn đường người Mông bản địa chuẩn bị bữa tối và túi ngủ để chúng tôi có thể nghỉ lấy sức để ngày mai đinh phục đỉnh cao nhất. Anh bạn dẫn đường tên là Sinh cứ thầm tiếc cho chúng tôi, bởi theo anh, nếu leo Fansipan vào tháng 3 thì sẽ được ngắm vẻ đẹp mê hồn của hoa đỗ quyên nở.

< Vượt suối cạn trong rừng Hoàng Liên.

Sớm hôm sau, chúng tôi hăm hở leo lên đỉnh Fansipan. Đoạn đường này khá nguy hiểm, càng lên cao đường càng hẹp, dốc thẳng đứng cộng với sương mù dày đặc hóa mưa trơn trượt nên chúng tôi phải dò từng bước thật cẩn thận.

< Du khách vượt rừng già ở độ cao 2.900m.

“Đến nơi rồi!" Có tiếng ai đó kêu lên mừng rỡ như phá tan bầu không khí yên tĩnh trong màn sương mù dày đặc. Trước mắt chúng tôi, một khối kim loại hình tháp ghi dòng chữ “FANSIPAN 3.143m” hiện ra trong ngất ngây sung sướng của tất cả mọi người.

Không gian chung quanh là một biển mây mù dày đặc che hết tầm nhìn. Lấy cờ Tổ quốc, máy ảnh, chúng tôi tranh thủ ghi lại khoảng khắc đáng nhớ ấy. Sương chui vào ống kính làm độ bắt nét cực kém, nhưng không ai bận tâm, bởi cái cảm giác được vượt qua chính mình là sung sướng hơn tất cả.
< Một cánh rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Sau cuộc chinh phục Fansipan, chúng tôi xuống núi tiếp tục chặng thứ hai bằng cách dùng xe máy khám phá cung đường đèo Hoàng Liên. Con đèo được ví như sợi chỉ vắt ngang qua dãy Hoàng Liên Sơn nối liền Lào Cai với Lai Châu. “Phượt” Hoàng Liên Sơn bằng xe máy đúng vào ngày có gió lạnh nên dù có trang bị áo ấm đến mấy thì cái lạnh vẫn như thấu vào xương vào thịt.

< Trên đỉnh Fansipan cao 3.143m.

Đỉnh đèo Hoàng Liên điểm cao nhất là Cổng Trời, có độ cao 1.600m so với mực nước biển. Khí hậu hai bên đỉnh đèo rất khác nhau. Bên phía Tam Đường (Lai Châu) trời ấm áp nhưng bên Sa Pa (Lào Cai) lại lạnh cắt da cắt thịt, cả ngày sương mù bao phủ, núi rừng chìm ngập trong sương mù nặng hạt. Cung đường đèo chỉ hơn 30km nhưng không thể đếm được có bao nhiêu khúc cua tay áo ghê người.

< Thực vật kỳ thú trên Hoàng Liên Sơn.

Khúc cua trên chồng lên khúc cua dưới, lắt léo, ngoằn ngoèo chạy giữa một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút. Xa xa chỉ thấy nhấp nhô những mảng xanh của rừng nguyên sinh, những mảng trắng của mây hòa quyện như một bức tranh thủy mặc đẹp đến mê hồn.

Chuyến vượt đèo cho chúng tôi những trải nghiệm thật thú vị khi tự mình chiến thắng được cái lạnh 20C ở đỉnh đèo và cảm giác sợ hãi ở những khúc cua tay áo rợn người.

< Đoàn du khách chinh phục đỉnh Fansipan.

Một điều thú vị khác, đó là trong quá trình lên đỉnh Fansipan và vượt đèo Hoàng Liên, chúng tôi đã ghi được vào ống kính khá nhiều những hình ảnh độc đáo về các loài thực vật lạ của VQG Hoàng Liên. Ông Phạm Văn Đang, Giám đốc VQG Hoàng Liên cho biết, theo đánh giá của các nhà khoa học, VQG Hoàng Liên là trung tâm đa dạng sinh học với nhiều loài đặc hữu được ghi vào sách đỏ thế giới cần được bảo tồn và lưu giữ. Hiện nay, Vườn còn chứa đựng nhiều bí ẩn về những loài thực vật cổ. Trong đó có nhiều loài đặc hữu chưa được nghiên cứu và khám phá. Vì vậy, VQG Hoàng Liên còn được công nhận là Vườn Di sản ASEAN.

Với diện tích hơn 60 nghìn ha, nằm ở độ cao từ 1.000 – 3.000m so với mực nước biển, VQG Hoàng Liên được ví như lá phổi xanh của khu vực Tây Bắc. Từ năm 2003, sau khi có quyết định thành lập Vườn Quốc gia, các nhà khoa học trong và ngoài nước và các trường đại học của Việt Nam đã được giao nhiệm vụ kết hợp cùng với địa phương tìm hiểu nghiên cứu sự đa dạng sinh học của Vườn và đã có những số liệu cụ thể.

Theo đó, VQG Hoàng Liên là một vùng đa dạng sinh học gồm nhiều chi, họ của hơn 2000 loài thực vật bậc cao, hàng ngàn loài động vật có xương sống, côn trùng và bò sát... chiếm gần 50% trong tổng loài của hệ động - thực vật Việt Nam. Trong đó có nhiều loài động, thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ như: bách xanh, thiết sam, thông tre, thông đỏ, đinh tùng, dẻ tùng... và các loài chim quý như đại bàng đốm to, trĩ mào đỏ, chim hét mỏ vàng, vượn đen, gấu trắng...

Chuyến khám phá VQG Hoàng Liên đã để lại trong lòng chúng tôi những ấn tượng thật khó quên. Đó là một Vườn Quốc gia giàu có tiềm năng và ẩn chứa một vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ hiếm nơi nào có được.

Du lịch, GO! - Theo Thông Thiện, Trần Huấn (Vnanet)

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Bí ẩn rừng Minh Hoá

Theo chân một thợ sơn tràng (người đi rừng), chúng tôi băng rừng lội suối suốt mấy ngày trời để khám phá vẻ đẹp của những hang động còn nằm ẩn mình trong các cánh rừng sâu của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

< Cửa hang động trong rừng Minh Hóa.

Anh Đinh Hồng Nhâm là một thợ sơn tràng có tiếng ở vùng rừng núi Minh Hóa. Hơn nửa đời người làm cái nghề xuyên rừng, lội suối nên dường như bất cứ chỗ nào trong vùng rừng núi Minh Hóa này anh cũng đều biết. Thậm chí, anh còn biết, ẩn dưới những tán rừng già Minh Hóa hiện có những hang động tuyệt đẹp mà ít người biết tới.

< Đoàn người phải vượt qua những vách đá cao, một bên là núi, một bên là thung sâu.

Đường vào rừng phải vượt qua nhiều lèn đá, băng qua lắm thung sâu ẩn dưới tán rừng già nguyên sinh. Sương rừng ẩm ướt và lá cây mục kích thích cho rêu mọc lún phún trên những lèn đá lô nhô.

Có đoạn, chỉ cần lệch chân một cái, rất có thể chúi mặt vào lưỡi đá tai mèo nham nhở sắc lẹm hoặc rơi xuống khe núi dựng đứng.

< Vẻ đẹp nguyên sơ của rừng Minh Hoá.

Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là một bãi cát khá bằng phẳng ven một con suối chưa được đặt tên. Anh Nhâm cho biết, hầu hết các dòng suối to nhỏ ở rừng Minh Hóa đều chảy ra từ lòng núi và chính trong những lòng núi ấy là các hang động tuyệt đẹp.

< Đoàn thám hiểm vượt suối bằng những chiếc săm ôtô bơm căng.

Để vào được hang đầu tiên, chúng tôi phải vượt suối bằng phao làm bằng chiếc săm ôtô bơm căng.

Vừa chui vào cửa hang, trước mắt chúng tôi hiện ra một “cung điện” tráng lệ với những bức rèm nhũ đá đẹp mê hồn rủ xuống từ trần hang.

< Vẻ đẹp kỳ ảo của nhũ đá trong các hang động ở rừng Minh Hoá.

Vào sâu bên trong, lòng hang hiện lên như một sân khấu nhân tạo hoành tráng được làm bằng nhũ đá đẹp lung linh, huyền ảo.

Dưới bóng đèn pin, các khối thạch nhũ hiện lên mờ ảo như hình thù các loài muông thú đang nhảy múa. Cạnh đó có ba cột nhũ đá khổng lồ được sắp đặt tựa như cổng tam quan của ngôi chùa lớn.

Sau hang thứ nhất, chúng tôi tiếp tục leo núi thêm 3 giờ nữa thì đến hang thứ hai. Ở đây, thạch nhũ có màu vàng óng như đồng thau, gõ vào ngân vang như chuông.

Nền hang được rải thảm bằng hàng triệu viên đá tròn to bằng quả trứng gà cho đến nhỏ như viên bi. Khi soi đèn pin vào, các viên đá phát ra tia sáng lóng lánh, viên thì trong suốt, viên thì như ngọc trai.

< Vòm hang động cao là địa điểm lý tưởng cho loài dơi rừng trú ngụ.

Anh Đinh Hồng Nhâm cho biết: “Trong quá trình đi rừng, tôi đã phát hiện ra ở đây có 5 hang động ở đầu nguồn các con suối và hầu hết các hang này đều thông với nhau, giữa các hang động này nhiều đoạn có nước ngầm nên rất khó đi qua”.

< Những nhũ đá sừng sững kỳ bí trong lòng hang động ở rừng Minh Hoá.

Nếu động Phong Nha được ví như một tòa lâu đài lộng lẫy đã được đưa vào khai thác du lịch và bảo quản có hiệu quả thì hệ thống hang động ở rừng Minh Hóa được ví là “nàng công chúa ngủ trong rừng”.

Trao đổi về vấn đề này, ông Đinh Minh Chất, Chủ tịch UBND huyện Minh Hóa cho biết: “Huyện Minh Hóa là vùng đệm của rừng Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cho nên cũng có nhiều hang động rất đẹp.

Mới đây, huyện đã khảo sát lên phương án bảo vệ và kêu gọi đầu tư để xây dựng tour du lịch tracking xuyên rừng khám phá vẻ tuyệt mĩ của hệ thống hang động mới này ”.

Du lịch, GO! - Theo Thông Thiện (VNP)